Bài 2. Lãng phí “kho báu điện gió ngoài khơi”: Bỏ ngỏ cơ hội, chậm bước ra biển lớn
Mega Story - Ngày đăng : 15:14, 13/09/2026
Một ngành kinh tế biển mới chỉ có thể hình thành khi các quy hoạch cùng hội tụ về một không gian phát triển.
Mega Story
Bài 2. Lãng phí “kho báu điện gió ngoài khơi”: Bỏ ngỏ cơ hội, chậm bước ra biển lớn
•{Ngày xuất bản}
Một ngành kinh tế biển mới chỉ có thể hình thành khi các quy hoạch cùng hội tụ về một không gian phát triển.
Tiếp tục đi sâu vào tìm hiểu thực tế tại 21 tỉnh, thành phố ven biển trên cả nước, phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus nhận thấy hành trình vươn ra biển tại các địa phương đang gặp nhiều điểm nghẽn, không chỉ khiến nuôi biển công nghiệp “mắc cạn,” mà còn gây lãng phí “kho báu” năng lượng gió ngoài khơi được đánh giá thuộc nhóm lớn nhất thế giới.
Một ngày giữa tháng 8/2026, bầu trời Cà Mau trong xanh vời vợi. Giữa những turbine gió khổng lồ trải dài bên bờ biển ở phường Vĩnh Trạch, cậu bé Dào, 8 tuổi, lặng lẽ nhìn những cánh quạt chậm rãi quay trong gió.
Ở tuổi của Dào, đáng lẽ em đã quen với mái trường, trang sách và tiếng trống vào lớp. Nhưng hoàn cảnh gia đình khó khăn khiến em chưa được đến trường. Hằng ngày, Dào theo mẹ ra những bãi bồi ven biển mò bắt sò huyết, kiếm thêm thu nhập.
Đứng dưới những turbine tại điểm tham quan điện gió Bạc Liêu, Dào ngước nhìn lên trời rồi thủ thỉ: “Đẹp quá chú ơi!” Một câu nói rất đỗi hồn nhiên của con trẻ nhưng gợi mở câu chuyện lớn hơn về vùng biển này. Dào chưa thể hình dung những turbine ngoài khơi có thể vươn xa đến đâu hay điện gió có thể tạo ra bao nhiêu năng lượng. Nhưng trong ánh mắt em, những cánh quạt giữa trời xanh và biển rộng dường như đã trở thành biểu tượng của một thế giới hiện đại, xanh hơn và nhiều cơ hội hơn.
Dào (đội mũ) và cậu bạn cau mày dưới cái nắng mưu sinh gay gắt. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)
Cách vùng biển Cà Mau gần 200km, tại phường Tô Châu (tỉnh An Giang), câu chuyện về phát triển điện gió ngoài khơi cũng đang “ngủ yên” giữa biển cả.
Chia sẻ với phóng viên VietnamPlus, bà Tạ Thị Phượng (52 tuổi) cho biết đã có hàng chục năm sống cùng biển ở phường Tô Châu. Hằng ngày, bà bán nho, chuối cho khách du lịch ven đường, lặng lẽ mưu sinh bên vùng biển giàu tài nguyên. Thế nhưng “nguồn điện gió khổng lồ” đang hiện hữu ngay trước cửa nhà vẫn còn xa lạ.
“Ở đây sóng to, gió mạnh lắm. Nhưng tôi chưa từng nghe thông tin về quy hoạch điện gió ngoài khơi. Chỉ biết qua thông tin báo, đài thì đây là ‘nguồn điện’ sạch. Nếu thời gian tới có quy hoạch phát triển điện gió thì tốt quá,” bà Phượng chia sẻ.
Tâm tư của bà Phượng phần nào cho thấy một nguồn năng lượng lớn đang hiện diện trước mắt nhưng chưa được khai thác. Sự lãng phí ấy không chỉ nằm ở những turbine chưa được dựng lên, mà còn nằm trong cơ hội công nghiệp chưa hình thành, chuỗi dịch vụ chưa phát triển, việc làm chưa được tạo ra và những giá trị gia tăng bị bỏ lỡ.
Cánh đồng điện gió tại khu vực tỉnh Cà Mau. (Ảnh: Lê Minh/Báo Ảnh Việt Nam)
Tiến sỹ Dư Văn Toán, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho biết trong cuộc đua chuyển dịch năng lượng toàn cầu, Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi với đường bờ biển dài hơn 3.260km, vùng đặc quyền kinh tế rộng gần 1 triệu km² cùng chế độ gió ổn định, tạo nên tài nguyên năng lượng gió khổng lồ. Khoảng 5 năm trước, Ngân hàng Thế giới đánh giá nước ta có khoảng 600 GW tiềm năng kỹ thuật điện gió ngoài khơi. Tiếp đó kết quả nghiên cứu cập nhật do Cục Khí tượng Thủy văn phối hợp với UNDP thực hiện đã nâng con số lên khoảng 1.068 GW. Sau khi loại trừ các khu vực hàng hải, luồng tuyến giao thông biển, khu bảo tồn biển, tiềm năng khai thác thực tế vẫn đạt trên 900 GW.
“Các số liệu trên đều thể hiện rằng Việt Nam đang sở hữu một trong những nguồn tài nguyên gió ngoài khơi lớn nhất thế giới,” Tiến sỹ Dư Văn Toán nhấn mạnh.
Đáng chú ý, theo ông Toán, xét trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam được đánh giá có chất lượng gió tốt nhất. Trên bình diện toàn cầu, Việt Nam nằm trong nhóm 5-6 quốc gia có điều kiện gió thuận lợi nhất, nhóm 10 quốc gia có tiềm năng điện gió ngoài khơi lớn và nhóm 20 quốc gia có tiềm năng phát triển điện gió tổng thể.
Những con số trên cho thấy biển không chỉ là không gian sinh tồn, không gian chủ quyền hay không gian của các ngành kinh tế truyền thống. Biển đang chứa đựng nguồn năng lượng có thể góp phần định hình cấu trúc phát triển mới của đất nước.
Nhưng nghịch lý nằm ở chỗ “kho báu càng lớn thì khoảng cách từ tiềm năng đến giá trị thực càng đáng suy nghĩ.” Điện gió đã được Việt Nam quan tâm từ khoảng năm 2010. Tiếp đó, cơ chế giá điện ưu đãi FIT1, rồi FIT2, từng tạo nên làn sóng đầu tư mạnh mẽ. Gần 100 dự án điện gió được triển khai trong giai đoạn 2018-2020. Đến nay, tổng công suất điện gió đã nối lưới của cả nước đạt hơn 6.000 MW. Nhưng phần lớn trong số đó vẫn là điện gió trên bờ và ven bờ.
Trong khi đó, nguồn tài nguyên được đánh giá có tiềm năng lớn nhất là điện gió ngoài khơi vẫn chưa được khai thác. Đây là “khoảng trống” đặc biệt đáng lưu ý trong bối cảnh nhu cầu năng lượng ngày càng tăng, quá trình chuyển dịch xanh diễn ra mạnh mẽ và Việt Nam đặt mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
“
Vướng mắc ở đây là từ nay đến năm 2030, làm gì cũng phải có quy hoạch, trong khi rất nhiều dự án chưa có quy hoạch. Không có quy hoạch thì bắt buộc phải bổ sung quy hoạch.”
Tiến sỹ Nguyễn Quốc Toản - Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam
Chia sẻ với phóng viên, Phó Giáo sư-Tiến sỹ Đinh Văn Châu, Hiệu trưởng Trường Đại học Điện lực, nhấn mạnh điện gió ngoài khơi không chỉ đơn thuần là một nguồn năng lượng tái tạo, mà còn là nền tảng hình thành hệ sinh thái công nghiệp biển hiện đại, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, nâng cao năng lực tự chủ công nghệ và hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
Tuy vậy, quá trình phát triển hiện nay vẫn đang gặp nhiều nút thắt như: Khung thể chế và thủ tục chưa đồng bộ; quy hoạch nguồn chưa gắn chặt với quy hoạch hạ tầng truyền tải; cơ chế doanh thu và phân bổ rủi ro chưa đủ sức huy động vốn; chuỗi cung ứng và năng lực tích hợp hệ thống còn hạn chế; dữ liệu và quản lý không gian biển chưa được tổ chức như một hạ tầng dùng chung…
Từ góc nhìn cơ quan quản lý Nhà nước, Tiến sỹ Nguyễn Quốc Toản - Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam, cũng nhìn nhận tiềm năng điện gió ngoài khơi của Việt Nam là rất lớn, nhưng quá trình khai thác còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
“Vướng mắc ở đây là từ nay đến năm 2030, làm gì cũng phải có quy hoạch, trong khi rất nhiều dự án chưa có quy hoạch. Không có quy hoạch thì bắt buộc phải bổ sung quy hoạch,” ông Toản nói. Đây cũng là một trong những nghịch lý lớn của điện gió ngoài khơi khi tài nguyên có, nhà đầu tư quan tâm, nhu cầu năng lượng ngày càng tăng, nhưng con đường từ khảo sát đến dự án cụ thể vẫn chưa đủ rõ ràng.
Theo Tiến sỹ Dư Văn Toán, từ năm 2024, điện gió ngoài khơi mới được “định danh” trong Luật Điện lực. Quy hoạch điện VIII và Quy hoạch điện VIII điều chỉnh năm 2025 cũng đặt ra mục tiêu đến năm 2030 phát triển khoảng 6 GW điện gió ngoài khơi; đến năm 2050 hướng tới gần 140 GW. Tuy nhiên, giữa mục tiêu quy hoạch và dự án thực tế vẫn tồn tại khoảng cách lớn, khiến nhiều dự án “nằm im trên giấy.”
Một loạt những điểm nghẽn cùng lúc xuất hiện cũng được Tiến sỹ Nguyễn Quốc Toản, Tiến sỹ Dư Văn Toán và Phó Giáo sư-Tiến sỹ Đinh Văn Châu chỉ ra. Trước hết là còn có sự chưa đồng bộ giữa Luật Điện lực; Luật Đầu tư; Luật Biển Việt Nam, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; Luật Quy hoạch và các quy định liên quan. Thủ tục kéo dài khiến thời gian chuẩn bị dự án tăng lên, trong khi điện gió ngoài khơi vốn là lĩnh vực đòi hỏi nguồn vốn rất lớn và thời gian đầu tư dài.
Tiếp đó là vấn đề giao khu vực biển để khảo sát. Thực tế đến nay cho thấy Việt Nam vẫn chưa có quy trình thật sự rõ ràng đối với doanh nghiệp tư nhân và nhà đầu tư nước ngoài. Hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn đối với thiết bị khảo sát gió biển, động lực, địa vật lý, địa chất, môi trường và sinh thái biển cũng chưa hoàn chỉnh.
Dữ liệu cũng là một câu chuyện đáng suy ngẫm. Việt Nam chưa có hệ thống dữ liệu gió ngoài khơi đủ chi tiết để nhà đầu tư có thể sử dụng ngay. Doanh nghiệp phải tự bỏ tiền khảo sát. Riêng chi phí vận hành một trạm đo gió ngoài biển có thể lên tới khoảng 2 triệu USD mỗi năm. Điều đáng nói là sau khi bỏ ra khoản tiền rất lớn để khảo sát, nhà đầu tư vẫn chưa có cơ chế pháp lý đủ rõ để bảo đảm quyền ưu tiên đối với khu vực biển mà mình đã đầu tư thu thập dữ liệu.
Rủi ro vì vậy tăng lên, còn niềm tin đầu tư bị thử thách.
Chi phí vốn cũng là một rào cản rất lớn. Theo Tiến sỹ Dư Văn Toán, trung bình để phát triển 1 GW điện gió ngoài khơi cần khoảng 3-4 tỷ USD. Như vậy, chỉ riêng những GW đầu tiên cũng đòi hỏi nguồn vốn lên tới hàng chục tỷ USD.
Một dự án quy mô lớn như trên không thể chỉ dựa vào quyết tâm của doanh nghiệp. Nó cần một hành lang chính sách đủ rõ để ngân hàng có thể đánh giá rủi ro, nhà đầu tư có thể tính toán hiệu quả và các liên danh quốc tế có thể quyết định rót vốn dài hạn. Đó cũng là lý do Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Khánh Hòa Nguyễn Trọng Chánh cho rằng cần “tháo gỡ điểm nghẽn thật nhanh để không lãng phí cơ hội phát triển.” Theo ông, điện gió ngoài khơi là loại năng lượng sạch, hoàn toàn tự nhiên và rất cần được đầu tư phát triển. Nhưng thời gian qua, lĩnh vực này còn vướng nhiều vấn đề về thủ tục pháp lý nên chưa thể đầu tư, khai thác hiệu quả.
Nêu dẫn chứng tại tỉnh Khánh Hòa, ông Chánh cho biết khu vực tỉnh Ninh Thuận cũ có tiềm năng lớn về năng lượng gió ngoài khơi, tuy nhiên một số dự án từng được đề xuất chưa thể triển khai do vướng quy hoạch. Một số khu vực còn liên quan tới khu bảo tồn nguồn lợi hải sản, đòi hỏi phải điều tra, đánh giá và loại trừ những vùng có thể tác động đến hệ sinh thái. Nên đến nay vẫn “chưa rõ hình hài.”
“
Cần tháo gỡ điểm nghẽn thật nhanh để không lãng phí cơ hội phát triển.”
Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Khánh Hòa Nguyễn Trọng Chánh
Tại An Giang, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Ngô Công Thức cũng khẳng định địa phương có điều kiện phát triển kinh tế biển gắn với chuyển dịch năng lượng và khai thác các nguồn năng lượng tái tạo phù hợp. Trong chiến lược của tỉnh giai đoạn 2026-2030, An Giang đã phê duyệt phát triển 8 dự án điện gió với tổng công suất 456 MW; đồng thời định hướng phát triển nuôi biển công nghiệp công nghệ cao kết hợp với năng lượng tái tạo, song thực tế vẫn còn rất khó khăn.
Theo ông Ngô Công Thức, những khó khăn chủ yếu hiện nay là yêu cầu bảo đảm đồng bộ giữa nguồn và lưới điện, khả năng giải tỏa công suất, hạ tầng kết nối, nguồn vốn, công nghệ và nhân lực kỹ thuật chất lượng cao. Đặc biệt với điện gió ngoài khơi, việc nghiên cứu, đề xuất phát triển cần được thực hiện trên cơ sở kết quả điều tra cơ bản tài nguyên điện gió, phù hợp với quy hoạch phát triển điện lực và đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.
“Rộng hơn, trong quá trình phát triển kinh tế biển, tỉnh An Giang đang đối mặt với những khó khăn mang tính hệ thống về thể chế, quy hoạch và hạ tầng. Trong đó, hệ thống pháp luật liên quan đến kinh tế biển (Luật Đất đai, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, Luật Thủy sản…) liên tục được điều chỉnh, dẫn đến việc phải điều chỉnh lại quy hoạch và các dự án. Các quy hoạch liên quan đến biển, đảo chậm được ban hành; cơ chế, chính sách hiện tại chưa đủ sức khuyến khích, thu hút các nhà đầu tư tư nhân tham gia phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội,” ông Thức nói.
Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Cần Thơ Trần Chí Hùng cũng nhận định thành phố có tiềm năng điện gió ngoài khơi ước tính khoảng 30.000 MW. Song trên thực tế, Cần Thơ cũng mới đang mở rộng khu vực nghiên cứu, khảo sát cách điểm đấu nối trên đất liền từ 22-30 km, đồng thời tiếp nhận đề xuất của 4 nhà đầu tư.
Thực tế tại các địa phương giàu tiềm năng về điện gió ngoài khơi trên cho thấy khi những cánh quạt ngoài khơi chưa quay, cơ hội phát triển vẫn còn ở đâu đó trên giấy.
Sự lãng phí của điện gió ngoài khơi không chỉ được đo bằng số MW chưa được xây dựng, mà rộng hơn còn là chi phí, cơ hội của nguồn năng lượng sạch chưa được khai thác; là những chuỗi cung ứng chưa hình thành; những cảng biển, dịch vụ logistics, cơ khí, bảo dưỡng, đào tạo nhân lực chưa được kích hoạt. Cũng vĩ thế, cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam bước vào một ngành công nghiệp biển mới đang bị bỏ ngỏ.
Sâu xa hơn, đó là sự chậm trễ trong quá trình biến lợi thế biển thành sức mạnh biển.
Trong kỷ nguyên vươn mình, nếu chỉ nhìn điện gió ngoài khơi dưới góc độ bổ sung công suất cho hệ thống điện, Việt Nam có thể bỏ lỡ phần giá trị lớn hơn nhiều.
Chia sẻ với phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus, Hiệu trưởng Trường Đại học Điện lực Đinh Văn Châu cho rằng điện gió ngoài khơi cần được xem như một chương trình phát triển công nghiệp - công nghệ quốc gia, chứ không chỉ là những dự án phát điện đơn lẻ.
Theo ông Châu, thước đo thành công không chỉ là số GW được lắp đặt, mà còn phải là lượng điện thực tế đưa lên lưới, tỷ lệ cắt giảm công suất, độ sẵn sàng của hệ thống, năng lực làm chủ công nghệ, tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước, số doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng và nguồn nhân lực chất lượng cao được đào tạo.
Đó là một sự thay đổi rất căn bản trong cách tiếp cận. Không phải “có bao nhiêu GW,” mà là “giữ lại được bao nhiêu giá trị.” Một turbine được nhập khẩu, lắp đặt rồi phát điện mới chỉ là bước đầu. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng để doanh nghiệp Việt Nam từng bước tham gia thiết kế, chế tạo, lắp đặt, vận hành, bảo dưỡng; làm chủ dữ liệu, công nghệ điều khiển, cáp điện, trạm điện ngoài khơi; phát triển cảng biển, tàu chuyên dụng và dịch vụ hậu cần; đào tạo đội ngũ kỹ sư, chuyên gia.
Ông Châu cũng nhấn mạnh Việt Nam không nên đặt mục tiêu tự làm tất cả ngay lập tức, nhưng cũng không thể chấp nhận một mô hình nhập khẩu trọn gói mà không tích lũy được năng lực công nghệ. Cách tiếp cận phù hợp là mua công nghệ có điều kiện, đồng thiết kế, phát triển, yêu cầu chuyển giao năng lực kiểm thử, dịch vụ vòng đời và từng bước nâng tỷ lệ nội địa hóa khi năng lực trong nước đáp ứng yêu cầu.
Cùng với công nghệ, theo ông Châu là hạ tầng. Điện gió ngoài khơi không thể phát triển nếu nguồn điện lớn nhưng lưới điện yếu. “Hạ tầng cần đi trước, nhưng không có nghĩa đầu tư trước bằng mọi giá,” ông Châu nói và nhấn mạnh trước hết phải “đi trước” bằng quy hoạch không gian biển, khảo sát, kiến trúc lưới điện, hành lang cáp, điểm cập bờ, nút đấu nối và kế hoạch phát triển lưới truyền tải trên bờ.
Sự lãng phí của điện gió ngoài khơi không chỉ được đo bằng số MW chưa được xây dựng, mà rộng hơn còn là chi phí, cơ hội của nguồn năng lượng sạch chưa được khai thác; là những chuỗi cung ứng chưa hình thành; những cảng biển, dịch vụ logistics, cơ khí, bảo dưỡng, đào tạo nhân lực chưa được kích hoạt. Cũng vĩ thế, cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam bước vào một ngành công nghiệp biển mới đang bị bỏ ngỏ.
Khi quy mô điện gió ngoài khơi lên tới hàng chục GW, cách mỗi dự án tự xây dựng tuyến cáp và điểm đấu nối riêng sẽ ngày càng bộc lộ hạn chế. Việt Nam cần chuyển dần sang quy hoạch theo cụm điện gió ngoài khơi, kết hợp trung tâm thu gom công suất, hành lang cáp và điểm cập bờ dùng chung, gắn với hệ thống truyền tải 500 kV trên bờ. Không gian biển cũng cần được tổ chức lại theo hướng đa chức năng.
Nhìn nhận từ góc độ địa phương, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Cà Mau Lữ Quang Ngời, cho biết với ba mặt giáp biển và đường bờ biển dài hơn 310 km, tốc độ gió biển ổn định trung bình 6,5-7m/s, biển Cà Mau được đánh giá có tiềm năng kỹ thuật để phát triển điện gió lên tới hơn 25.000 MW. Song song với điện gió ven bờ và trên bờ, Cà Mau còn có tiềm năng điện gió ngoài khơi với quy mô được nghiên cứu dự kiến có thể phát triển lên tới 10.000 MW với mục tiêu phát sản lượng lên lưới điện quốc gia, sản xuất năng lượng mới và xuất khẩu điện.
“Khi tháo gỡ được các điểm nghẽn về hạ tầng, cơ chế và nguồn nhân lực, tỉnh kỳ vọng năng lượng gió ngoài khơi sẽ không chỉ tạo ra nguồn điện sạch mà còn mở ra một không gian phát triển mới cho công nghiệp, dịch vụ, logistics và kinh tế biển. Đây chính là cách chúng tôi muốn biến lợi thế ‘cánh quạt giữa biển khơi’ thành một động lực tăng trưởng mới của Cà Mau trong những năm tới,” ông Ngời nói.
Cách tiếp cận của Cà Mau cũng phù hợp với yêu cầu của Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, trong đó xác định biển phải trở thành không gian phát triển chiến lược, nơi hình thành những cực tăng trưởng, ngành kinh tế và động lực phát triển mới.
Trong tầm nhìn ấy, rõ ràng điện gió ngoài khơi không đứng riêng lẻ. Nó có thể tạo ra chuỗi liên kết từ nguồn điện đến lưới điện, cảng biển, logistics, công nghiệp hỗ trợ, hydrogen xanh, amoniac xanh và xuất khẩu năng lượng. Đó cũng là hướng đi Cà Mau đang đặt ra khi xác định điện gió ngoài khơi là điểm mấu chốt để hình thành Trung tâm năng lượng tái tạo và công nghiệp năng lượng biển.
Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam cũng nhấn mạnh vấn đề cốt lõi với điện gió ngoài khơi là phải đưa vào đúng hệ thống quy hoạch, bởi từ nay đến năm 2030, mọi hoạt động phát triển đều phải có cơ sở quy hoạch. Đây cũng là lý do việc hoàn thiện quy hoạch không gian biển, quy hoạch điện, hành lang cáp, điểm đấu nối và các khu vực phát triển cần được đặt trong một chỉnh thể thống nhất.
Điều đó có nghĩa không thể để quy hoạch điện đi một hướng, quy hoạch biển đi một hướng, cảng biển và logistics lại đi một hướng khác. Một ngành kinh tế biển mới chỉ có thể hình thành khi các quy hoạch cùng hội tụ về một không gian phát triển.
Để làm được điều trên, nhiều ý kiến cho rằng Việt Nam cần ưu tiên tháo gỡ đồng bộ những điểm nghẽn về thể chế, quy hoạch, dữ liệu, hạ tầng, tài chính, công nghệ và nhân lực; đồng thời xây dựng cơ chế “một cửa” thực chất, có một đầu mối đủ thẩm quyền chịu trách nhiệm xuyên suốt quá trình triển khai dự án.
Niềm tin của nhà đầu tư không thể được tạo ra bằng lời kêu gọi. Nó phải được tạo dựng bằng một hệ thống chính sách minh bạch, có thời hạn, có trách nhiệm và cơ chế phân bổ rủi ro rõ ràng trong toàn bộ vòng đời dự án. Khi đó, những cánh quạt ngoài khơi mới thực sự bắt đầu quay theo đúng nghĩa của một động lực phát triển.
Trở lại câu chuyện với Dào, cậu bé 8 tuổi đứng dưới những turbine gió ở Cà Mau, ngước nhìn những cánh quạt giữa trời xanh, vẫn say sưa với vẻ đẹp kỳ lạ của những cánh quạt khổng lồ đang thong thả quay trong gió, như thể đó là điều tự nhiên nhất trên đời. Dào chưa biết thế nào là chuyển dịch năng lượng, chưa biết một GW điện gió cần bao nhiêu vốn, cũng chưa thể hiểu những tranh luận về quy hoạch, truyền tải hay cơ chế giá điện. Nhưng em biết một điều rất giản dị: “Đẹp quá!”
Có lẽ, đằng sau câu nói ấy của Dào là một câu hỏi mà cả thế hệ hôm nay phải trả lời: Những cánh quạt đẹp đẽ ấy sẽ chỉ là một điểm tham quan bên bờ biển, hay sẽ trở thành biểu tượng của một nền kinh tế biển hiện đại, nơi năng lượng sạch tạo ra việc làm, công nghệ, công nghiệp và những cơ hội mới cho người dân?
Tại vùng biển của tỉnh An Giang, bà Tạ Thị Phượng cũng đang chờ một câu trả lời không chỉ từ biển, mà từ tư duy phát triển hôm nay. “Gió to vậy, không khai thác được thì rất lãng phí.” Đó không chỉ là lời tâm sự của người phụ nữ mưu sinh ven biển, mà còn là lời nhắc nhở về một nguồn lực quốc gia đang lãng phí từng ngày.
Điều đó cũng nói lên rằng Việt Nam không thiếu gió. Điều còn thiếu là một tư duy đủ mới để nhìn thấy giá trị chiến lược của “kho báu” điện gió ngoài khơi; một thể chế đủ thông thoáng để nhà đầu tư có thể “nhập cuộc”; một quy hoạch đủ đồng bộ để các dự án có thể đi vào thực tế; và một quyết tâm đủ lớn để biến tiềm năng thành năng lực cạnh tranh quốc gia. Khi đó, “kho báu” điện gió ngoài khơi sẽ không còn là những con số hàng trăm hay hàng nghìn GW trên các báo cáo nghiên cứu. Nó sẽ hiện hữu trong từng dòng điện, từng nhà máy, từng cảng biển, từng doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng, từng việc làm được tạo ra, và trong cơ hội để những đứa trẻ vùng biển như Dào có một tương lai rộng mở hơn.
Nhưng để biến những tiềm năng mới được “định hình trên giấy” thành giá trị hiện hữu, câu hỏi lớn hơn đặt ra không còn là Việt Nam có gì từ biển, mà là điều gì đang ngăn những nguồn lực ấy được đánh thức? Và quan trọng hơn là cần thay đổi tư duy, thể chế thế nào để khai mở không gian phát triển chiến lược mới từ biển?./.
Mời độc giải đón đọc Bài 3: Đổi mới tư duy, đột phá thể chế: “Mở đường” xây dựng quốc gia biển mạnh.