Bài 3: Đổi mới tư duy, đột phá thể chế: “Mở đường” xây dựng quốc gia biển mạnh
Mega Story - Ngày đăng : 15:17, 13/09/2026
Từ tháo gỡ “nút thắt” thể chế đến mở rộng “không gian” phát triển, để những tiềm năng riêng lẻ có thể kết nối thành sức mạnh tổng hợp, tạo thế và lực mới cho kinh tế biển trong kỷ nguyên vươn mình.
Mega Story
Bài 3: Đổi mới tư duy, đột phá thể chế: “Mở đường” xây dựng quốc gia biển mạnh
•{Ngày xuất bản}
Từ tháo gỡ “nút thắt” thể chế đến mở rộng “không gian” phát triển, để những tiềm năng riêng lẻ có thể kết nối thành sức mạnh tổng hợp, tạo thế và lực mới cho kinh tế biển trong kỷ nguyên vươn mình.
Nhìn từ thực tiễn phát triển kinh tế biển, điểm nghẽn lớn nhất không phải vì Việt Nam thiếu tiềm năng, mà ở chỗ chưa tạo được một không gian thể chế đủ rộng để nguồn lực được “đánh thức” và chuyển hóa thành động lực tăng trưởng.
Qua hai bài viết trước, Báo Điện tử VietnamPlus đã chỉ ra những nghịch lý rất cụ thể: Nguồn lực có nhưng chưa được khai thác tương xứng, nhà đầu tư có nhưng chưa thể hành động, người dân có khát vọng nhưng chưa có một không gian pháp lý ổn định để phát triển. Từ nuôi biển đến điện gió ngoài khơi, những câu chuyện ấy cùng quy tụ về một điểm là những giới hạn của tư duy quản lý và những khoảng trống, chồng chéo của thể chế đang trở thành lực cản đối với quá trình hiện thực hóa tiềm năng biển.
Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đã đặt ra một yêu cầu mang tính bước ngoặt: Phải thay đổi cách nhìn về biển. Biển không chỉ là nơi cung cấp tài nguyên để khai thác, mà phải được xác lập là không gian phát triển chiến lược của quốc gia, nơi hội tụ các nguồn lực về kinh tế, khoa học - công nghệ, năng lượng, logistics, đô thị và sinh kế của hàng triệu người dân.
Nói cách khác, muốn ra biển lớn, Việt Nam cần một tư duy rộng lớn hơn, một nền quản trị hiện đại hơn và một “đôi chân thể chế, công nghệ” đủ vững để đi xa.
Nhìn từ đất liền ra biển, không gian ấy tưởng như vô tận. Nhưng khi một dự án thực sự muốn bước xuống mặt biển, những khoảng không tưởng rộng lớn lại xuất hiện nhiều lớp quy hoạch, nhiều chức năng sử dụng và nhiều “cánh cửa” pháp lý.
Một khu vực biển có thể đồng thời liên quan đến hàng hải, thủy sản, bảo tồn, quốc phòng-an ninh, năng lượng, du lịch hoặc các hoạt động khai thác tài nguyên khác. Mỗi lĩnh vực có mục tiêu quản lý, hệ thống quy định và cách tiếp cận riêng, trong khi biển không vận hành theo ranh giới của từng ngành. Đây là một trong những điểm nghẽn lớn đang được đặt ra trong quá trình phát triển kinh tế biển.
Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp, Việt Nam có lợi thế rất lớn về biển nhưng kết quả phát triển kinh tế biển vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Một trong những nguyên nhân là nhiều quy định pháp luật liên quan đến tài nguyên, môi trường biển và hải đảo còn chồng chéo, thiếu đồng bộ, gây khó khăn cho quản lý Nhà nước cũng như hoạt động đầu tư, kinh doanh.
Ông Điệp dẫn chứng, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo hiện đang có nhiều điểm giao thoa với Luật Đất đai, Luật Địa chất và Khoáng sản cùng các luật chuyên ngành khác. Sự chồng lấn này không chỉ làm phát sinh thủ tục phức tạp, kéo dài thời gian xử lý hồ sơ, mà còn làm tăng chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, người dân, nguồn lực biển chưa được chuyển hóa tương xứng thành giá trị phát triển.
Ông Nguyễn Quốc Toản - Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam, cũng nhìn nhận Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015 đã bộc lộ nhiều hạn chế sau gần một thập kỷ thực hiện. Đáng chú ý là khuôn khổ pháp lý về quản lý, sử dụng không gian biển và khu vực biển chưa đầy đủ; cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng và chuyển đổi số trong quản trị biển chưa đáp ứng yêu cầu; chính sách thúc đẩy các ngành kinh tế biển mới chưa đủ mạnh.
Đây là vấn đề đặc biệt rõ đối với những lĩnh vực đòi hỏi vốn lớn, thời gian đầu tư dài và không gian biển ổn định như điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghiệp, kinh tế tuần hoàn biển, công nghiệp sinh học biển hay logistics biển.
Thực tế, một doanh nghiệp muốn đầu tư điện gió ngoài khơi không chỉ cần xác định được khu vực dự án mà còn phải làm rõ thời hạn sử dụng, cơ chế đầu tư, quyền và nghĩa vụ, phương án đấu nối, khả năng huy động vốn và sự tương thích với các quy hoạch khác. Một dự án nuôi biển công nghiệp cũng cần một khu vực đủ ổn định để đầu tư lồng bè, con giống, công nghệ và chuỗi hậu cần. Nếu quyền sử dụng khu vực biển chưa được xác lập đủ rõ, bài toán đầu tư dài hạn sẽ lập tức phát sinh rủi ro
Từ thực tiễn ở địa phương, ông Nguyễn Trọng Chánh - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Khánh Hòa, cho hay một khu vực biển có thể đứng trước yêu cầu sử dụng khác nhau. Có nơi vừa cần bảo vệ nguồn lợi thủy sản, hệ sinh thái, vừa có nhu cầu phát triển cảng biển, du lịch hay các hoạt động kinh tế khác. Trong khi quy định pháp luật chưa đồng bộ. Đơn cử, thủ tục giao khu vực biển liên quan đến nhiều quy định pháp luật về đầu tư, môi trường, thủy sản và các lĩnh vực khác. Nhà đầu tư vì thế phải trải qua nhiều công đoạn, mất thời gian và kéo thêm chi phí.
Người dân loay hoay, bấp bênh trong cảnh nuôi biển tự phát. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)
Tại Đà Nẵng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Trường Sơn cũng chỉ ra những khó khăn khi không gian biển đồng thời chứa đựng nhiều giá trị cần được bảo vệ và khai thác. Trong khi đó, chế định pháp lý về quyền sử dụng khu vực biển hiện chưa đầy đủ, chưa tạo được sự ổn định, an toàn pháp lý cần thiết cho hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh trên biển. Theo ông Sơn, bài toán vì thế không phải chọn “bảo tồn hay phát triển,” mà là phải quy hoạch thế nào để bảo tồn trở thành nền tảng của phát triển và phát triển không phá vỡ nền tảng sinh thái.
Chia sẻ với phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Nghệ An Võ Trọng Hải đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, tháo gỡ những chồng chéo trong quản lý tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, tạo cơ sở để địa phương, doanh nghiệp chủ động hơn trong đầu tư.
Từ góc nhìn của địa phương ở cực Nam của Tổ quốc, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Cà Mau Lữ Quang Ngời nhấn mạnh địa phương có tiềm năng kinh tế biển rất lớn, nhưng để chuyển tiềm năng thành động lực tăng trưởng thực chất vẫn còn những điểm nghẽn cần được tháo gỡ đồng bộ. Trong đó, những nút thắt chính cần lưu ý là thể chế, quy hoạch, hạ tầng, nguồn lực đầu tư.
Tăng trưởng sẽ mãi chỉ nằm trên giấy nếu những nút thắt thể chế, quy hoạch, hạ tầng... chưa được tháo gỡ. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)
Đối với Cần Thơ, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Trần Chí Hùng cũng chỉ ra thực tế việc quản lý tài nguyên, giao khu vực biển và thủ tục đầu tư vẫn còn chồng chéo, gây khó khăn trong công tác quản lý. Ranh giới hành chính trên biển giữa các tỉnh; ranh giới hành chính trên biển giữa các xã, phường có biển trong 1 tỉnh chưa được phân định gây khó khăn đến công tác quản lý của các địa phương.
Có chung quan điểm, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Bùi Minh Thạnh, cũng chỉ ra các nhóm điểm nghẽn đáng chú ý như: Thể chế và liên kết chuỗi giá trị, nghiên cứu khoa học chưa thực sự chặt chẽ, thiếu cơ chế phối hợp đủ mạnh trên phạm vi vùng; quy hoạch chuyên ngành có thời điểm chưa đồng bộ, dẫn đến chồng lấn; dữ liệu ngành còn phân tán ở nhiều cơ quan, chưa đồng bộ kết nối.
Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ngãi Đỗ Tâm Hiển cũng nêu thực tế sau sáp nhập, tỉnh có không gian phát triển lớn hơn, yêu cầu quản lý và khai thác hiệu quả các nguồn lực cũng đặt ra những đòi hỏi mới. Trong khi đó, một số cơ chế, chính sách để phát huy vai trò của các khu kinh tế ven biển, phát triển logistics, cảng biển, năng lượng và kinh tế biển vẫn chưa thật sự đồng bộ; việc phân cấp, phân quyền trong một số lĩnh vực còn hạn chế, ảnh hưởng đến tiến độ triển khai các dự án lớn.
Ngoài ra, việc đồng bộ giữa quy hoạch quốc gia, quy hoạch vùng và quy hoạch tỉnh cũng cần tiếp tục được rà soát, cập nhật để đáp ứng yêu cầu phát triển mới.
Những ý kiến trên dù khác nhau, nhưng cùng chỉ về một điểm: Muốn hướng ra biển thì trước hết phải mở được những “cánh cửa” thể chế trên bờ. Không thể dùng tư duy của một ngành để quản lý một không gian thuộc về nhiều ngành; càng không thể dùng những thủ tục của hôm qua để xử lý những ngành kinh tế biển ngày mai.
Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị trực tuyến tới nhiều điểm cầu trong cả nước do Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức sáng 3/9/2026 - Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã yêu cầu: Thể chế phải đi trước một bước, vừa giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, vừa mở đường cho phát triển. Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Chính phủ và các cơ quan liên quan phải sửa quy định chồng chéo, lấp khoảng trống pháp lý cản trở đổi mới, liên kết vùng, phát triển du lịch, thu hút nhân tài, phát huy nguồn lực. Vấn đề đã chín, đã rõ, được thực tiễn kiểm nghiệm phải sớm thể chế hóa.
“
Nếu Nghị quyết số 36-NQ/TW trước đây tạo ra bước chuyển quan trọng về nhận thức, xác lập chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển, thì Nghị quyết số 20-NQ/TW đặt yêu cầu ở một tầm cao mới hơn. Đó là yêu cầu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh."
Phó Giáo sư-Tiến sỹ Nguyễn Chu Hồi Đại biểu Quốc hội khóa XV, Phó Chủ tịch thường trực Hội Thủy sản Việt Nam
Nếu thể chế là một “đôi chân” thì công nghệ chính là đôi chân còn lại để Việt Nam tiến ra biển lớn. Vì thế, không thể xây dựng quốc gia biển mạnh bằng phương thức khai thác nhỏ lẻ, dựa nhiều vào kinh nghiệm truyền thống, thủ công. Càng tiến xa, xuống sâu, càng phải dựa vào dữ liệu, khoa học, công nghệ và năng lực tổ chức.
Phó Giáo sư-Tiến sỹ Nguyễn Chu Hồi (Đại biểu Quốc hội khóa XV, Phó Chủ tịch thường trực Hội Thủy sản Việt Nam) nhấn mạnh những vùng biển xa, biển sâu mở ra dư địa lớn cho các ngành kinh tế mới nhưng cũng đi kèm rủi ro thiên tai, nhân tai, yêu cầu vốn lớn và công nghệ cao. Vì thế, Việt Nam phải đầu tư mạnh vào điều tra cơ bản, công nghệ biển tiên tiến, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa và làm chủ không gian biển cả trên mặt nước lẫn trong lòng biển.
Yêu cầu ấy càng trở nên cấp thiết khi ngày 28/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Theo ông Hồi, nếu Nghị quyết số 36-NQ/TW trước đây tạo ra bước chuyển quan trọng về nhận thức, xác lập chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển, thì Nghị quyết số 20-NQ/TW đặt yêu cầu ở một tầm cao mới hơn. Đó là yêu cầu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
“Như vậy, đây không còn là câu chuyện chỉ phát triển vài ngành kinh tế biển, mà là câu chuyện thay đổi cách tổ chức không gian phát triển quốc gia,” ông Hồi nói.
Biển vì thế phải được nhìn như một không gian chiến lược, nơi hội tụ đồng thời các lợi ích về kinh tế, môi trường, quốc phòng-an ninh và hội nhập quốc tế. Tinh thần đó đòi hỏi sự thay đổi từ tư duy “hướng ra biển” về mặt địa lý sang tư duy “lấy biển làm một trong những không gian phát triển chủ đạo.” Điều này có nghĩa là các quyết sách về giao thông, năng lượng, công nghiệp, thủy sản, logistics, khoa học - công nghệ, đô thị, du lịch và quốc phòng - an ninh đều phải đặt trong một cấu trúc không gian biển thống nhất. Nói cách khác, biển không thể tiếp tục nằm ở “cuối bản đồ” của quá trình phát triển, mà phải vào trung tâm của bản đồ chiến lược quốc gia.
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Tạ Đình Thi. (Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)
Đây cũng là lý do mà Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Tạ Đình Thi nhấn mạnh dự thảo luật Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) cần thúc đẩy chuyển đổi từ tư duy quản lý đơn ngành sang quản lý tổng hợp, liên ngành, dựa trên hệ sinh thái, nhằm giải quyết hiệu quả các xung đột, chồng chéo lợi ích trong khai thác, sử dụng không gian biển và tài nguyên biển.
Tiến sỹ Vũ Mạnh Hùng - Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành (Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương) cũng nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy quản trị, chuyển từ quản lý theo ngành sang quản trị không gian biển tổng hợp, hiệu quả hơn. Đây chính là nền tảng để các ngành kinh tế biển mới có thể phát triển trong kỷ nguyên mới.
Điện gió ngoài khơi là một ví dụ. Việt Nam có tiềm năng gió ngoài khơi rất lớn, nhưng biến tiềm năng thành điện năng lại đòi hỏi chuỗi điều kiện chưa từng có như: Điều tra biển, khảo sát địa chất, quy hoạch không gian, lựa chọn khu vực, cơ chế đầu tư, hạ tầng cảng, chuỗi cung ứng, truyền tải điện, công nghệ, cơ chế tài chính.
Phó Giáo sư-Tiến sỹ Đinh Văn Châu, Hiệu trưởng Trường Đại học Điện lực. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)
Phó Giáo sư-Tiến sỹ Đinh Văn Châu, Hiệu trưởng Trường Đại học Điện lực, cho rằng không nên nhìn điện gió ngoài khơi như những dự án điện đơn lẻ, mà phải đặt trong một hệ sinh thái công nghiệp mới. Một turbine ngoài biển có thể kéo theo chuỗi giá trị từ sản xuất thiết bị, kết cấu móng, cáp điện, cảng hậu cần, dịch vụ kỹ thuật,… đến đào tạo nhân lực và bảo dưỡng công trình. Nếu chỉ nhìn điện gió như một nguồn điện bổ sung, có thể sẽ bỏ lỡ phần lớn giá trị mà ngành công nghiệp này tạo ra.
Tiến sỹ Dư Văn Toán (Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển) cũng nhấn mạnh phát triển năng lượng tái tạo ngoài khơi phải gắn với quy hoạch tổng thể không gian biển, bảo đảm hài hòa với ngư trường, hệ sinh thái và các hoạt động kinh tế khác. Đó là tư duy của một quốc gia biển mạnh, không khai thác từng mảnh tài nguyên, mà tổ chức cả không gian biển thành một hệ sinh thái kinh tế.
Nuôi biển cũng cần một bước chuyển từ quy mô nhỏ lẻ sang công nghiệp, công nghệ cao, carbon thấp và đa loài. Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung - Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, cho rằng muốn phát triển nuôi biển theo hướng này phải giải quyết đồng bộ các vấn đề về quyền sử dụng khu vực biển, tín dụng, bảo hiểm, tiêu chuẩn kỹ thuật, hạ tầng hậu cần và nguồn nhân lực.
Vì vậy, đại diện Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam kiến nghị Nhà nước sớm ban hành nghị định về cấp “sổ xanh” xác nhận quyền sử dụng khu vực biển lâu dài cho các tổ chức nuôi biển, tương tự như “sổ đỏ” với đất, qua đó tạo cơ sở pháp lý để doanh nghiệp và người dân đầu tư dài hạn, tiếp cận vốn, bảo hiểm và phát triển sản xuất.
Từ thực tế của doanh nghiệp tiên phong theo đuổi mô hình nuôi biển công nghệ cao tại Việt Nam trong suốt 6 năm qua tại tỉnh Khánh Hòa và Quảng Ninh, anh Nguyễn Bá Ngọc - Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Mực nhảy Biển Đông, nêu lên nỗi trăn trở làm thế nào để phát triển kinh tế biển mà mỗi mùa bão đến, doanh nghiệp, người dân và Nhà nước không phải bắt đầu lại từ đầu? Bởi thực tế cho thấy, một chiếc lồng nuôi biển có thể được thiết kế để chịu sóng gió. Nhưng một mô hình kinh tế biển muốn đi xa thì không thể chỉ dựa vào một chiếc lồng.
Theo anh Ngọc, nuôi biển cần hậu cần, khoa học và công nghệ. Cần con giống, chế biến và thị trường. Cần du lịch, bảo tồn, năng lượng xanh. Và quan trọng hơn cả, cần một cách tiếp cận mới để thích ứng với thiên tai ngay từ khi thiết kế mô hình. Lấy dẫn chứng từ cơn bão số 4 vừa đi qua ở miền Bắc, anh Ngọc cho rằng đã đến lúc nên đặt ra câu hỏi lớn hơn: Cô Tô có thể trở thành nơi thí điểm một mô hình kinh tế biển thích ứng thiên tai cho Việt Nam hay không? Nếu câu trả lời là có, thì đây không còn là câu chuyện riêng của một doanh nghiệp. Đó sẽ là câu chuyện của người dân biển, doanh nghiệp, chính quyền, nhà khoa học và những người đang đau đáu với tương lai biển Việt Nam. Bão hôm nay có thể là một phép thử. Nhưng cũng có thể là lúc chúng ta nhìn thấy rõ hơn điều cần phải làm cho ngày mai.
“Không thể yêu cầu người Việt Nam ra biển làm giàu cho đất nước mà không tạo cho họ một nơi để trở về khi biển nổi giông bão. Chúng tôi dấn thân là để rút ra những bài học, để nhận được sự đồng hành và kiến tạo cùng đất nước. Vì chúng tôi biết những cái giá phải trả từ tài chính, nước mắt và cả những lần sinh tử,... nó không thể mang lại giá trị kinh tế trong một sớm một chiều,” anh Ngọc trải lòng.
Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư Trần Đình Luân cũng thẳng thắn nêu quan điểm, câu chuyện nuôi biển không chỉ là chuyện lồng bè hay con giống. Tương lai phải là những vùng nuôi tập trung, công nghệ cao, được quản lý bằng dữ liệu, kết nối với chế biến, logistics và thị trường quốc tế. Đó cũng chính là sự chuyển đổi từ tư duy “khai thác biển” sang tư duy “kiến tạo không gian biển.”
“
Khi quyền sử dụng khu vực biển được xác lập rõ ràng, người dân và doanh nghiệp sẽ có cơ sở pháp lý ổn định để đầu tư; Nhà nước quản lý thống nhất không gian biển, hạn chế chồng lấn và nâng cao hiệu quả giám sát tài nguyên."
Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư Trần Đình Luân
Rõ ràng Nghị quyết số 20-NQ/TW đã “mở ra” một tầm nhìn mới. Nhưng để biến tầm nhìn thành dự án, biến dự án thành tài sản và biến tài sản thành động lực tăng trưởng, nhiều ý kiến cho rằng cần một việc rất cụ thể là sửa những quy định đang cản đường phát triển. Đây cũng chính là yêu cầu đặt ra với dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi).
Chia sẻ với phóng viên VietnamPlus, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang Ngô Công Thức đánh giá Nghị quyết số 20-NQ/TW là “kim chỉ nam” và là “đòn bẩy” chiến lược để An Giang hiện thực hóa khát vọng trở thành trung tâm năng lượng tái tạo của khu vực; mở ra định hướng chiến lược quan trọng để địa phương phát huy không gian biển, ven biển và hải đảo, gắn phát triển kinh tế biển với chuyển dịch năng lượng, năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới.
Tuy nhiên, trước những khó khăn mang tính hệ thống về thể chế, quy hoạch và hạ tầng hiện nay, tỉnh An Giang cũng kiến nghị Chính phủ có cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội cho các đặc khu biển, đảo; có cơ chế hỗ trợ phát triển nuôi biển công nghiệp bền vững. Đồng thời, An Giang kiến nghị Bộ Công Thương phân bổ 1.195 MW công suất điện gió cho tỉnh; kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành bộ tiêu chí quy định cụ thể định mức kinh tế - kỹ thuật cho các dự án lớn như Đề án phát triển An Giang thành trung tâm kinh tế biển quốc gia.
Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Nghệ An Võ Trọng Hải cũng nhấn mạnh để khơi thông mọi nguồn lực, đóng góp xứng đáng vào chiến lược biển quốc gia, tỉnh kiến nghị Trung ương tiếp tục rà soát, hoàn thiện hành lang pháp lý, tháo gỡ các quy định chồng chéo về quản lý tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; đồng thời sớm ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết về quy hoạch không gian biển quốc gia và giao khu vực biển để có cơ sở pháp lý rõ ràng, đầu tư dài hạn.
Đối với Thành phố Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Bùi Minh Thạnh kiến nghị Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương sớm hoàn thiện chính sách để tăng cường thu hút vốn ngoài ngân sách; ưu tiên nguồn lực và cơ chế đặc thù để đẩy nhanh các tuyến đường giao thông kết nối cảng biển; hoàn thiện cơ chế về đất đai và mặt nước để thành phố khai thác hiệu quả nguồn lực cho phát triển; hoàn thiện hành lang pháp lý, cơ chế phối hợp và chính sách đầu tư đồng bộ cho các dự án năng lượng tái tạo, hạ tầng truyền tải và cảng chuyên dụng.
(Ảnh: TTXVN)
Tương tự, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đề xuất tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát; rút ngắn quy trình, thủ tục trong đầu tư, đất đai, xây dựng, môi trường để tạo điều kiện cho địa phương và doanh nghiệp triển khai các dự án trọng điểm.
Với Quảng Ninh - địa phương được ví như một “Việt Nam thu nhỏ” nhờ hội tụ đầy đủ các yếu tố cơ bản để phát triển kinh tế biển hiện đại, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Quản Minh Cường đề nghị Chính phủ báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù hoặc thí điểm một số cơ chế vượt trội cho các khu kinh tế ven biển nhằm tạo hành lang pháp lý thông thoáng, đồng bộ, phù hợp với đặc thù và giải phóng tối đa tiềm năng kinh tế biển của tỉnh.
Ý kiến nghị từ các địa phương ven biển cho thấy việc sửa luật không chỉ xuất phát từ yêu cầu hoàn thiện kỹ thuật pháp lý, mà còn trực tiếp gắn với nhu cầu phát triển.
Tiến sỹ Dư Văn Toán, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển (IMHEMS), Bộ Nông nghiệp và Môi trường. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)
Từ góc nhìn chuyên gia, Tiến sỹ Dư Văn Toán cũng kỳ vọng Nghị quyết số 20-NQ/TW sẽ tạo “cú hích” để các bộ, ngành khẩn trương hoàn thiện hành lang pháp lý, tháo gỡ vướng mắc về quy hoạch không gian biển, giao khu vực biển, cấp phép khảo sát, lựa chọn nhà đầu tư, đấu nối hạ tầng và cơ chế phát triển thị trường điện; góp phần hình thành ngành công nghiệp biển xanh mới và hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, giàu từ biển.
Về phía cơ quan soạn thảo dự án luật, Tiến sỹ Nguyễn Quốc Toản, Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam cho rằng việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đang được đặt trong bối cảnh yêu cầu phát triển biển đã thay đổi mạnh so với thời điểm luật được ban hành năm 2015. Nhiều ngành kinh tế mới xuất hiện, đòi hỏi nhu cầu sử dụng biển dài hạn, quy mô lớn và công nghệ cao. Vì vậy, pháp luật phải “đi trước một bước” để tạo không gian cho những mô hình phát triển mới.
Một trong những điểm mới quan trọng của dự thảo luật là quy định về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển. Đây là bước hoàn thiện quan trọng trong thể chế quản lý, sử dụng không gian biển theo hướng minh bạch và hiện đại. Đồng thời bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sử dụng biển.
Với doanh nghiệp, một quyền sử dụng rõ ràng đồng nghĩa với khả năng nhìn thấy rõ hơn bài toán đầu tư. Với ngân hàng, đó là cơ sở để đánh giá rủi ro. Với Nhà nước, đó là công cụ để quản lý. Với người dân, đó là nền tảng để yên tâm đầu tư sinh kế.
(Ảnh: TTXVN)
Cùng với đó, cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và số hóa quản lý biển cũng cần trở thành những nội dung trọng tâm. Một dự án biển có thể liên quan đến nhiều cơ quan, nhiều quy hoạch và nhiều lĩnh vực. Nếu doanh nghiệp phải tự mình đi qua từng đầu mối để hoàn tất từng thủ tục, thì chi phí cơ hội sẽ tăng lên theo thời gian. Ngược lại, một nền quản trị số, liên thông dữ liệu và phối hợp liên ngành có thể thay đổi căn bản phương thức quản lý, vận hành hiệu quả hơn.
Cũng vì lý do đó, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thể chế phải bảo đảm tính đồng bộ với các luật liên quan. Nếu sửa một đạo luật nhưng các luật khác vẫn giữ cách tiếp cận cũ, thì những điểm nghẽn có thể chỉ chuyển từ “cánh cửa” này sang “cánh cửa” khác.
Vì vậy, dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) phải được đặt trong tổng thể cải cách thể chế phát triển biển. Trong đó, tiếng nói của địa phương, doanh nghiệp, nhà khoa học và cộng đồng cần được phản ánh đầy đủ. Một đạo luật về biển không thể chỉ được xây dựng từ “bàn làm việc trên đất liền.” Nó phải được kiểm nghiệm từ những vùng nuôi biển, những cảng biển, những khu bảo tồn, những công trình năng lượng ngoài khơi và cả những sinh kế của người dân ven biển.
Chia sẻ trong một cuộc họp về tiến độ xây dựng dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng cũng nhấn mạnh yêu cầu đẩy nhanh tiến độ nhưng phải bảo đảm chất lượng, đặc biệt nhấn mạnh quyền tiếp cận biển của người dân. Đồng thời yêu cầu tăng cường phối hợp với các bộ, ngành và lĩnh vực liên quan trực tiếp đến khai thác tài nguyên biển; tham khảo ý kiến của các tổ chức, đại diện doanh nghiệp và các nhà đầu tư liên quan đến biển, hải đảo để dự án luật có tính đồng bộ, thống nhất cao với các pháp luật chuyên ngành khác.
Đó cũng chính là cách để thể chế thực sự kiến tạo không gian phát triển từ biển như tinh thần của Nghị quyết số 20-NQ/TW, khi đặt mục tiêu đến năm 2045 Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Con đường đi tới đích ấy sẽ không chỉ được đo bằng số lượng dự án hay quy mô khai thác, mà bằng những ngành kinh tế biển mới, những công nghệ mới, những không gian biển được quản trị hiệu quả, những cộng đồng cư dân biển có sinh kế bền vững và một hệ thống quản trị biển hiện đại.
Tuy nhiên, thể chế chỉ có thể phát huy đầy đủ giá trị khi được đặt trong một không gian phát triển tương xứng. Bởi nếu những lợi thế vẫn bị chia cắt, nguồn lực khó có thể hội tụ và tạo thành sức mạnh mới. Một quy hoạch dù tốt nhưng bị giới hạn bởi những ranh giới hành chính cũ; một cảng biển thiếu kết nối với vùng nguyên liệu, thị trường và các trung tâm sản xuất; hay một vùng biển giàu tiềm năng nhưng chưa có hậu phương công nghiệp, logistics và nguồn nhân lực phù hợp,… đều khó hình thành những chuỗi giá trị đủ lớn để tạo sức bật cho kinh tế biển.
Tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và tổ chức lại không gian phát triển phải là hai quá trình song hành. Một bên mở đường về chính sách, một bên tạo mặt bằng để các nguồn lực được kết nối, bổ trợ và cộng hưởng. Trong bối cảnh đó, việc sắp xếp, hợp nhất các tỉnh, thành phố vừa qua, không chỉ là câu chuyện về tổ chức bộ máy hay địa giới hành chính, mà còn mở ra cơ hội tái cấu trúc không gian phát triển, nối liền những lợi thế từng bị chia cắt, hình thành những hành lang kinh tế, chuỗi liên kết và các cực tăng trưởng mới, từ rừng, núi, cao nguyên đến biển.
Đó cũng chính là một bước chuyển quan trọng: Từ tháo gỡ “nút thắt” thể chế đến mở rộng “không gian” phát triển, để những tiềm năng riêng lẻ có thể kết nối thành sức mạnh tổng hợp, tạo thế và lực mới cho kinh tế biển trong kỷ nguyên vươn mình.
Mời độc giả đón đọc Bài 4: “Từ rừng núi ra biển lớn: Mở rộng không gian, kiến tạo cực tăng trưởng mới”