Mega Story

Bài 1. Nuôi biển “mắc cạn bởi mê cung thủ tục”: Tư duy cũ làm nghẽn cơ hội phát triển

13/09/2026 15:10

Khi chính sách “lỗi thời” trước yêu cầu phát triển thì những cơ hội tăng trưởng cũng đang bị giữ lại bởi “mê cung” thủ tục và tư duy quản lý cũ.

1.cover.png

Từ chủ trương lớn của Đảng đến chiến lược phát triển kinh tế biển đều xác định nuôi biển (cách gọi tắt của nuôi trồng thủy sản trên biển) theo mô hình công nghệ cao là một trong những động lực tăng trưởng mới, góp phần bảo đảm an ninh lương thực, tạo sinh kế bền vững và hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Thế nhưng, phía sau những kỳ vọng ấy, nhiều doanh nghiệp, người dân vẫn đang “mắc cạn” ngay trên hành trình bước ra biển lớn.

Rất nhiều dự án có tổng vốn đầu tư hàng trăm tỷ đồng phải nằm bờ, những vùng nuôi biển đã quy hoạch chưa thể triển khai, người dân chưa được xác lập quyền sử dụng mặt nước; các cơ sở sản xuất tôm giống rơi vào thế “tiến thoái lưỡng nan” vì những điểm nghẽn về đất đai và quy hoạch. Câu chuyện ở các tỉnh Khánh Hòa, Lâm Đồng và nhiều địa phương ven biển trên cả nước cho thấy một thực tế đáng suy ngẫm: Khi chính sách “lỗi thời” trước yêu cầu phát triển thì những cơ hội tăng trưởng cũng đang bị giữ lại bởi “mê cung” thủ tục và tư duy quản lý cũ.

dji_20260708145820_0003_d.jpg
1.tit-phu1.png

Trong suốt hành trình hơn 3 tháng đi tìm hiểu thực tế, nghiên cứu chính sách và làm việc với lãnh đạo các cơ quan quản lý, chính quyền địa phương, phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus đã ghi nhận rất nhiều câu chuyện bế tắc. Mỗi dự án nuôi biển quy mô công nghiệp cần đồng thời đáp ứng hàng loạt điều kiện từ quy hoạch không gian biển, giao khu vực biển, đánh giá tác động môi trường, đầu tư hạ tầng hậu cần, logistics, con giống, công nghệ, thị trường đến nguồn nhân lực chất lượng cao.

Thế nhưng, chính tại những khâu được coi là điều kiện tiên quyết ấy, động lực đầu tư của doanh nghiệp, người dân lại dần bị “bào mòn.” Bởi lẽ, muốn triển khai một dự án nuôi biển, nhà đầu tư phải đồng thời thực hiện hàng loạt thủ tục liên quan đến Luật Bảo vệ môi trường, Luật Thủy sản, Luật Tài nguyên môi trường biển và hải đảo, đến Luật Đầu tư, rồi quy hoạch không gian biển, quốc phòng, hàng hải...

Phức tạp hơn, mỗi thủ tục lại do một cơ quan khác nhau quyết định. Mỗi quy định lại được xây dựng từ một góc nhìn quản lý khác nhau. Khi các quy định chưa được kết nối thành quy trình thống nhất, doanh nghiệp, người dân buộc phải tự tìm đường đi qua “mê cung” thủ tục. Hệ quả không chỉ khiến nhà đầu tư mất thời gian chờ đợi, thiệt hại chi phí đầu tư, mà còn suy giảm niềm tin, tắc nghẽn cơ hội phát triển.

Câu chuyện đầu tư nuôi biển công nghiệp ở vùng biển xã Vĩnh Hải (tỉnh Ninh Thuận cũ, nay là tỉnh Khánh Hòa) của Công ty Cổ phần Mực nhảy Biển Đông - doanh nghiệp tiên phong theo đuổi mô hình nuôi biển công nghệ cao tại Việt Nam do anh Nguyễn Bá Ngọc làm Chủ tịch Hội đồng quản trị là một ví dụ. Trong hơn 6 năm qua, doanh nghiệp đã đầu tư “mở biển” với kinh phí 120 tỷ đồng, nhưng đến nay vẫn “mắc cạn” bởi mê cung thủ tục, chưa được tỉnh bàn giao mặt nước biển.

Chia sẻ với phóng viên, anh Ngọc cho biết sau khi Nghị quyết 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển “ra đời,” năm 2019, Công ty Cổ phần Mực nhảy Biển Đông đã tiếp cận vấn đề nuôi biển công nghệ cao tại vùng biển C1, C2, C3 của vùng biển xã Vĩnh Hải. Thế nhưng, suốt hơn 6 năm qua, từ lúc triển khai thí điểm đến nay, doanh nghiệp vẫn chưa được cấp “sổ xanh” để đưa dự án ra biển lớn.

1.graphic2.png

Về lý do dự án nuôi biển công nghệ cao bị “mắc cạn” vùng biển Vĩnh Hải, anh Ngọc cho rằng yếu tố đầu tiên là cách tiếp cận việc giao mặt nước biển bị chậm do “tư duy cũ,” cũng như sự dè dặt của lãnh đạo tỉnh Ninh Thuận cũ. Các thủ tục để hướng dẫn doanh nghiệp cũng rất sơ sài, không rõ ràng. Đã thế, sau hợp nhất tỉnh, toàn bộ hồ sơ của doanh nghiệp trong vòng 3 năm đầu lại gần như mất hết dữ liệu.

Thẳng thắn chia sẻ từ góc độ cơ quan quản lý, ông Nguyễn Trọng Chánh - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Khánh Hòa nhìn nhận việc giao biển thời gian qua còn nhiều vướng mắc liên quan đến thủ tục pháp lý bởi mỗi thủ tục căn cứ theo một luật khác nhau, khiến doanh nghiệp tốn rất nhiều thời gian.

ca9a3500.jpg
Ông Nguyễn Trọng Chánh - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Khánh Hòa trao đổi với phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

Đơn cử như trường hợp nuôi biển công nghệ cao của Công ty Cổ phần Mực nhảy Biển Đông, ngoài các thủ tục về đầu tư, đánh giá tác động môi trường, doanh nghiệp còn phải làm thủ tục về lập bản đồ địa hình đáy biển. Thủ tục này doanh nghiệp lại phải đi thuê làm. Như vậy, dù khu vực nuôi biển tại tỉnh Ninh Thuận cũ đã được quy hoạch, nhưng khi thực hiện hồ sơ giao, cho thuê khu vực biển lại rất khó khăn.

“Hơn thế, kinh tế biển có nhiều loại hình khác nhau, nếu đánh đồng loại hình nào cũng quy định như nhau (như chung thủ tục về lập bản đồ địa hình đáy biển, đánh giá tác động môi trường) thì rõ ràng là rất bất cập,” ông Chánh chia sẻ.

ca9a3851.jpg
Ông Nguyễn Bá Hải trầm tư mỗi khi nghĩ đến khối tài sản im lìm "nằm bờ." (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

Đấy cũng là những “trở lực” dẫn đến việc toàn bộ tài sản (với tổng vốn đầu tư hơn 1 triệu USD) của doanh nghiệp tiên phong theo đuổi mô hình nuôi biển công nghệ cao tại Việt Nam ở tỉnh Khánh Hòa hiện vẫn phải nằm bờ, hư hỏng từng ngày.

Đứng bên những lồng nuôi phủ đầy dấu vết thời gian, ông Nguyễn Bá Hải (bố của anh Nguyễn Bá Ngọc) không giấu được sự xót xa: “Nhà tôi 4 đời bám biển. Tôi đã bán cả phương tiện đi biển ở tỉnh Hà Tĩnh để vào hỗ trợ con. Hơn 6 năm nay nhìn từng chiếc lồng (mỗi lồng trị giá hơn 1,3 tỷ đồng) nằm bờ, hư hỏng dần, chỉ biết chảy nước mắt. Điều chúng tôi cần chỉ là một mặt nước ổn định để đầu tư, nhưng nút thắt ấy vẫn tắc nghẽn. Công sức, tiền của gần như bị nhấn chìm hết.”

dji_20260709060606_0058_d.jpg
1.tit-phu2.png

Không có quyền sử dụng mặt nước thì cũng không dám đầu tư thêm, càng không có tài sản để thế chấp vay vốn ngân hàng mở rộng sản xuất.”

Nếu câu chuyện Mực nhảy Biển Đông ở tỉnh Ninh Thuận cũ cho thấy những trở lực trong hành trình đầu tư nuôi biển công nghệ cao ngoài khơi, khiến doanh nghiệp chán nản, kiệt sức, đến nỗi phải bỏ của, đi tìm cơ hội mới, thì tại những làng biển lâu đời ở các tỉnh Khánh Hòa, Lâm Đồng, hàng trăm hộ dân lại đang đối diện với một thực tế mong manh hơn: Nuôi tự phát, rủi ro cao, vẫn phải bám trụ.

Theo chia sẻ của người dân, biển đã nuôi sống họ qua nhiều thế hệ, nhưng đến nay, quyền sử dụng không gian biển để sản xuất vẫn chưa được xác lập đầy đủ. Ngân hàng thì không có cơ sở để “mở rộng” tín dụng. Đây cũng là “điểm nghẽn” cản trở quá trình chuyển đổi từ nuôi biển truyền thống sang nuôi biển công nghệ cao.

Gần 30 năm gắn bó với vùng biển Vĩnh Hải (tỉnh Khánh Hòa), ông Võ Văn Thuận ở thôn Mỹ Tân đã quá quen với những mùa sóng dữ. 20 chiếc lồng nuôi tôm hùm, cá mú, cá chim, cá diêu hồng với tổng vốn đầu tư gần 2 tỷ đồng là toàn bộ tài sản tích cóp của gia đình sau nhiều năm lao động trên biển. Ba thập kỷ làm nghề đủ để ông hiểu rằng nghề nuôi biển luôn phải chấp nhận đánh đổi trước thiên tai.

Trong câu chuyện với người viết, ông Thuận vẫn chưa quên trận áp thấp nhiệt đới năm 2005 khiến gần như toàn bộ tài sản bị cuốn trôi, trắng tay chỉ sau một đêm. Thế nhưng, qua nửa đời người bám biển, điều khiến người đàn ông sinh năm 1967 này trăn trở nhất là gia đình ông vẫn chưa được tỉnh cho thuê mặt bằng nuôi biển.

“Không có quyền sử dụng mặt nước thì cũng không dám đầu tư thêm, càng không có tài sản để thế chấp vay vốn ngân hàng mở rộng sản xuất,” ông Thuận chia sẻ. Điều đó đồng nghĩa với việc, dù đã có kinh nghiệm, có thị trường, có khát vọng làm ăn lớn hơn, người dân vẫn buộc phải duy trì quy mô nhỏ lẻ để giảm thiểu rủi ro.

ca9a3966.jpg
Ông Võ Văn Thuận trầm tư về hoàn cảnh hiện tại. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

Ông Lê Đình Khiêm - Chi Cục trưởng Chi cục Thủy sản và Biển đảo tỉnh Khánh Hòa thẳng thắn nhìn nhận hoạt động nuôi trồng thủy sản ven bờ tại vùng biển Vĩnh Hải trong suốt nhiều năm qua chủ yếu phát triển theo hình thức tự phát. Đáng nói hơn, ông Khiêm nhấn mạnh nếu sau này chồng lấn với luồng hàng hải, quốc phòng hoặc các mục tiêu sử dụng biển khác, người dân sẽ buộc phải di dời.

Cách Vĩnh Hải không xa, tại vùng biển xã Vĩnh Hảo (tỉnh Lâm Đồng), người dân nuôi biển cũng chung tình cảnh tương tự. Gia đình ông Nguyễn Nhiên bắt đầu nuôi cá lồng bè từ năm 2.000. Đến nay, gia đình đã đầu tư phát triển 48 lồng nuôi trên diện tích gần 1.000m². Mỗi tháng, riêng chi phí thức ăn và tiền công lao động đã lên tới hơn 200 triệu đồng. Cân đo chi phí, mỗi năm gia đình thu lãi khoảng 200-300 triệu đồng, nhưng thu nhập ấy chưa đủ để gia đình ông yên tâm gắn bó lâu dài.

ca9a4473.jpg

Điều chúng tôi lo nhất là đến nay vẫn chưa được địa phương cho thuê mặt bằng nuôi biển. Nghĩa là chúng tôi đang phải chịu cảnh nuôi tự phát. Không có mặt bằng hợp pháp thì không thể vay vốn, không dám mở rộng sản xuất. Người dân đã nhiều lần kiến nghị lên các cấp nhưng vẫn chưa được giải quyết.”

Ông Nguyễn Nhiên, ngư dân tại khu vực biển Vĩnh Hảo, tỉnh Lâm Đồng

Cũng theo lời ông Nhiên, hàng chục năm trước, tại vùng biển Vĩnh Hảo có rất đông hộ nuôi biển, nhưng đến nay chỉ còn chưa tới 30 hộ tiếp tục bám nghề. Một phần vì dịch bệnh, một phần vì thiếu vốn. Nhưng nguyên nhân sâu xa hơn chính là tâm lý không dám đầu tư khi quyền sử dụng mặt nước vẫn chưa rõ ràng.

Câu chuyện của anh Trần Tuấn Quân, người dân xóm 7, xã Vĩnh Hảo, cũng phản ánh rõ điều đó. Sinh ra trong gia đình làm nghề biển, từng nhiều lần thất bại rồi phải rời quê lên Thành phố Hồ Chí Minh làm công nhân, năm 2016 anh quyết định trở về. “Tôi nghĩ mình sinh ra từ biển thì phải sống được nhờ biển,” anh Quân nói.

Vậy là, từ một khung lồng góp vốn cùng bạn bè, đến nay gia đình anh Quân đã có 20 khung nuôi cá bớp, cá chim và cá mú. Theo lời anh Quân, mỗi tháng, gia đình anh bỏ ra khoảng 200-300 triệu đồng tiền thức ăn, có năm lãi vài trăm triệu đồng, nhưng cũng có năm thua lỗ hàng trăm triệu vì dịch bệnh. “Nếu được giao mặt bằng nuôi biển ổn định thì người dân sẽ có cơ hội vay vốn, đầu tư bài bản hơn. Còn hiện nay, gần như đánh cược. Tất cả đều tự làm, tự chịu,” anh Quân buồn bã chia sẻ.

Nhìn nhận từ góc độ chính quyền cơ sở, ông Trần Ngọc Thuận - Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Vĩnh Hảo, cho biết toàn xã hiện có khoảng 20km đường bờ biển với 26 hộ nuôi thủy sản, quy mô hơn 1.000 lồng bè, chủ yếu tập trung tại xóm 7. Thế nhưng, đến nay địa phương vẫn chưa thể thống kê đầy đủ diện tích mặt nước mà người dân đang sử dụng, bởi chưa được giao hoặc cho thuê khu vực biển.

“Việc hướng dẫn hồ sơ cấp phép trước đây cũng chưa cụ thể, dẫn tới cả chính quyền lẫn người dân đều gặp khó trong quản lý và thực hiện,” ông Thuận thổ lộ.

ca9a4571.jpg

Người dân không thiếu ý chí bám biển, kinh nghiệm hay khát vọng làm giàu. Điều họ đang thiếu là một nền tảng pháp lý đủ ổn định để yên tâm bỏ vốn, tiếp cận tín dụng, mạnh dạn đầu tư và gắn bó lâu dài với biển.

Từ thực tế nuôi biển ở vùng biển Khánh Hòa đến vùng biển Lâm Đồng, có thể thấy điều người dân thiếu không phải là ý chí bám biển, cũng không phải kinh nghiệm hay khát vọng làm giàu. Điều họ đang thiếu là một nền tảng pháp lý đủ ổn định để yên tâm bỏ vốn, tiếp cận tín dụng, mạnh dạn đầu tư và gắn bó lâu dài với biển.

Nhìn rộng ra cả nước, bà Nguyễn Thị Hồng Nhung - Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam cũng chỉ ra một thách thức lớn khi 21 địa phương ven biển còn thiếu quy hoạch không gian biển chi tiết, trong khi thủ tục giao khu vực biển phức tạp. Hiện nay đa số các quy hoạch có liên quan đến phát triển nuôi biển đến địa bàn cấp xã, phường đều chưa được xây dựng, phê duyệt. Không có quy hoạch thì không giao được một cách đủ lâu dài các khu vực biển cụ thể cho đầu tư nuôi biển.

Và khi “tấm giấy thông hành” còn chưa được trao thì hành trình đưa nuôi biển trở thành ngành kinh tế hiện đại sẽ vẫn còn những khoảng trống cần được lấp đầy.

ca9a4688.jpg
1.tit-phu3.png

Nếu hàng nghìn chiếc lồng nuôi trồng thủy sản ven biển, dự án nuôi biển công nghệ cao ngoài khơi đang “thoi thóp” chờ quyết định giao khu vực biển, thì trên đất liền, một “nút thắt” khác cũng đang âm thầm kìm hãm sự phát triển của cả chuỗi giá trị thủy sản. Bởi muốn có một ngành nuôi biển hiện đại, trước hết phải có nguồn giống chất lượng. Nhưng nghịch lý là ngay tại vùng sản xuất tôm giống lớn nhất cả nước tại tỉnh Lâm Đồng, hàng trăm doanh nghiệp lại đang rơi vào trạng thái không dám đầu tư mở rộng, thậm chí không biết sẽ tiếp tục tồn tại đến khi nào.

pho-chu-tich-thuong-truc-uy-ban-nhan-dan-tinh-le-trong-yen-4-.jpg
Ông Lê Trọng Yên, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban Nhân dân tỉnh Lâm Đồng. (Ảnh: TTXVN).

Trao đổi với phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus vào thời điểm đầu tháng 8/2026, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban Nhân dân tỉnh Lâm Đồng Lê Trọng Yên cho biết sau hợp nhất, Lâm Đồng tiếp tục sở hữu lợi thế lớn về phát triển ngành tôm giống khi kế thừa vùng sản xuất tôm trọng điểm của cả nước (tỉnh Bình Thuận cũ). Đây không chỉ là niềm tự hào mà còn là trách nhiệm của tỉnh trong việc giữ vững và nâng tầm vị thế “thủ phủ tôm giống,” góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành tôm Việt Nam. Toàn tỉnh hiện có 119 cơ sở với 726 trại sản xuất, ương dưỡng tôm giống. Các cơ sở sản xuất tập trung chủ yếu tại xã Vĩnh Hảo. Mỗi năm, tỉnh cung ứng trên 25 tỷ con tôm giống, chiếm 18-20% sản lượng tôm giống của cả nước.

Thế nhưng, nghịch lý đang diễn ra là chính nơi tạo ra “đầu vào” của cả ngành lại đang đối mặt nguy cơ bị chững lại vì những vướng mắc về đất đai và quy hoạch.

Dẫn chúng tôi đi giữa hàng trăm bể sản xuất tôm giống đã phủ màu thời gian tại xã Vĩnh Hảo, ông Trương Hữu Phiếu - Phó Tổng Giám đốc Công ty Tôm giống Thông Thuận (Phó Chủ tịch Hiệp hội Tôm tỉnh Lâm Đồng) không giấu được sự trăn trở.

1.graphic1(1).png

Ông Phiếu thở dài nói: “Là doanh nghiệp tiên phong gây dựng ngành tôm giống ở Bình Thuận, nhưng bây giờ lại là người bơ vơ nhất.” Ít ai biết rằng riêng khu sản xuất của Thông Thuận tại Vĩnh Hảo từng là một trong những cơ sở lớn nhất cả nước. Doanh nghiệp bắt đầu đầu tư từ năm 2001 với gần 5ha đất sản xuất. Thời kỳ cao điểm, mỗi năm cơ sở cung ứng khoảng 3,5 tỷ con tôm giống. Thế nhưng, vài năm trở lại đây, công suất chỉ còn khoảng 1,5 tỷ con, giảm gần 2/3 so với trước.

Không phải vì thị trường thu hẹp, cũng không phải vì doanh nghiệp thiếu công nghệ, nguyên nhân lớn nhất, theo ông Phiếu là bởi “doanh nghiệp không còn dám đầu tư.”

Về nguồn cơn của lo lắng ấy, ông Phiếu khẳng định là do Kết luận số 811 ngày 24/10/2024 của Thường trực Tỉnh ủy Bình Thuận cũ. Theo chủ trương này, nhiều cơ sở sản xuất tôm giống ở Vĩnh Hảo chỉ được xem xét gia hạn thời hạn sử dụng đất đến ngày 31/12/2030, gắn với định hướng di dời về dự án Khu sản xuất giống thủy sản tập trung Chí Công (cách khoảng 30 km) có tổng diện tích hơn 153 ha được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt từ ngày 30/10/2013, với quy mô 90 ha và tổng mức đầu tư hơn 127 tỷ đồng, bàn giao sử dụng vào năm 2020.

Thế nhưng, đến nay, sau hơn 13 năm, hạ tầng của Khu sản xuất giống thủy sản tập trung Chí Công vẫn chỉ là một khu đất trống ngổn ngang, mênh mông cỏ dại. Chưa kể nếu buộc di chuyển đến khu vực mới này, mỗi doanh nghiệp sẽ phải đầu tư lại từ đầu với chi phí từ hàng chục tỷ đồng đến hàng trăm tỷ đồng. Trong khi đó, các cơ sở hiện hữu lại không đủ cơ sở pháp lý để doanh nghiệp yên tâm đầu tư lâu dài.

Đi không nổi, ở lại thì bất an! Ông Phiếu chia sẻ, nếu doanh nghiệp “đánh cược” đầu tư lại cơ sở hạ tầng đang xuống cấp để sản xuất, nhưng đến hết năm 2030 tỉnh không cho gia hạn thì coi như doanh nghiệp hoạt động trái phép. Bên cạnh đó, hiện ngân hàng ở địa phương cũng gần như ngừng giải ngân, nên doanh nghiệp sản xuất tôm giống rất bế tắc, đang rơi vào thế “tiến thoái lưỡng nan.”

“Hệ quả là hơn 200 bể sản xuất hiện đang phải bỏ không vì xuống cấp. Mỗi bể có thể tạo ra khoảng một triệu con giống mỗi tháng. Điều đó đồng nghĩa với việc, chỉ riêng cơ sở của Thông Thuận đã mất khoảng 200 triệu con tôm giống mỗi tháng do không thể cải tạo, mở rộng cơ sở sản xuất,” ông Phiếu trầm ngâm chia sẻ.

Rộng hơn đối với ngành tôm giống, ông Phiếu nhấn mạnh toàn bộ khu vực sản xuất tôm giống ở xã Vĩnh Hảo đang sản xuất chiếm khoảng 20% sản lượng giống của cả nước. Vì thế, nếu vướng mắc tại khu vực này không được tháo gỡ, doanh nghiệp không sản xuất được, coi như cả nước sẽ giảm mất 20% lượng tôm giống.

Nói thêm về nguồn cơn nảy sinh vướng mắc trên, ông Trần Hậu Điển - Chủ tịch Hiệp hội Tôm tỉnh Lâm Đồng cho rằng việc Tỉnh uỷ Bình Thuận trước đây ban hành Kết luận số 811, có thể là do chưa đánh giá được mức độ tác động. Thời điểm đó, văn bản trên đưa ra cũng khá bất ngờ. “Theo tôi được biết thì văn bản trên được đưa ra từ một cuộc họp trực tuyến, trước đó cũng chưa hỏi ý kiến cụ thể của các cơ quan, ban, ngành hay có mức độ phản biện cụ thể,” ông Điển chia sẻ.

dji_20260710100133_0171_d.jpg
Chủ doanh nghiệp cho rằng những vướng mắc quy định không chỉ ảnh hưởng đến khu vực và tỉnh, mà còn tác động chung trên quy mô cả nước. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

Ông Điển cũng nêu ra 3 vấn đề chưa được trả lời, làm sáng tỏ liên quan đến văn bản trên của Tỉnh ủy Bình Thuận cũ là mục đích lấy đất để làm gì? phương án đền bù thế nào? và vị trí đất để di dời đến ở đâu? “Trong khi sản xuất tôm giống là ngành nghề trọng điểm, nên phải đáp ứng được 3 vấn đề trên mới di dời được. Còn đi mà chưa rõ đất thế nào, chưa rõ phương án đền bù và cũng chưa biết lấy đất để làm gì thì làm sao doanh nghiệp yên tâm, đồng tình được,” ông Điển trăn trở.

Trước thực trạng trên, ông Điển cho biết thời gian qua, hiệp hội đã nhiều lần có văn bản kiến nghị, mong muốn Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Thuận cũ, rồi Ủy ban Nhân dân tỉnh Lâm Đồng hiện nay xem xét, nhưng tới giờ cũng chưa có kết quả.

“Trong trường hợp tỉnh Lâm Đồng vẫn không giải quyết hợp lý thì Hiệp hội tôm giống sẽ kiến nghị lên tới các cấp cao hơn để xem xét giải quyết. Bởi ngành tôm thương phẩm phụ thuộc rất lớn vào nguồn tôm giống. Nếu làm đứt gãy ngành tôm giống thì cũng đồng nghĩa làm đứt gãy cả ngành tôm thương phẩm,” ông Điển nói.

ca9a4601.jpg
Ông Trần Ngọc Thuận (phải) chia sẻ với phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

Về phía chính quyền địa phương, ông Trần Ngọc Thuận, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Vĩnh Hảo, chia sẻ với vai trò là một người cán bộ của xã, đồng thời là người con của quê hương nơi đây, bản thân ông thực sự thấy tiếc nuối. Bởi nghề nuôi trồng thủy sản, nhất là sản xuất tôm giống trên địa bàn đã hình thành và phát triển hàng chục năm qua, đã có thương hiệu nổi tiếng khắp cả nước và còn nhiều dư địa để mở rộng phát triển lớn mạnh hơn, đồng thời tạo cơ hội cho phát triển du lịch biển.

“Đã đến lúc cần phải thay đổi tư duy về phát triển kinh tế biển, tận dụng lợi thế để phát triển vì mục tiêu chung của tỉnh, của đất nước,” ông Thuận nhấn mạnh.

Từ câu chuyện nuôi biển, sản xuất tôm giống trên, có thể thấy điều đáng tiếc không chỉ nằm ở một ngành nghề đang đứng trước nguy cơ chững lại, mà sâu xa hơn là bài toán làm thế nào để những lợi thế biển thực sự được đánh thức và chuyển hóa thành động lực phát triển. Khi tư duy phát triển chưa theo kịp tiềm năng, những nguồn lực tưởng như sẵn có vẫn có thể bị bỏ ngỏ, thậm chí trở thành sự lãng phí cơ hội.

dji_20260808144928_0276_d.jpg
(Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

Đáng nói là, câu chuyện nuôi biển bị “mắc cạn” kể trên chỉ là một lát cắt trong bức tranh rộng lớn hơn. Bởi ngoài không gian mặt nước giàu tiềm năng cho nuôi trồng thủy sản, biển Việt Nam còn mở ra một “kho báu” khổng lồ về năng lượng tái tạo, nhất là điện gió ngoài khơi. Đây là nguồn lực có thể tạo ra những động lực phát triển mới, nhưng đến nay vẫn chưa được đánh thức tương xứng với tiềm năng./.

Mời độc giả đón đọc Bài 2: Lãng phí “kho báu điện gió ngoài khơi”: Bỏ ngỏ cơ hội, chậm bước vươn ra biển lớn.

tac-gia.png


(0) Bình luận
© Bản quyền thuộc về VietnamPlus, TTXVN.
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO
Bài 1. Nuôi biển “mắc cạn bởi mê cung thủ tục”: Tư duy cũ làm nghẽn cơ hội phát triển