Thái Nguyên từ lâu đã được mệnh danh là cái nôi của vùng đất “Đệ nhất danh trà”, trong đó vùng đất Tân Cương chính là danh xưng tiêu biểu nhất.

Thái Nguyên là vùng chè nổi tiếng của Việt Nam, được mệnh danh là "Đệ nhất danh trà". Sản xuất chè ở vùng đất này đã có từ lâu đời, gắn với bản sắc văn hóa các dân tộc của tỉnh. Thái Nguyên có nhiều vùng chè phân bố tập trung tại 40 xã, phường của tỉnh, trong đó có 5 vùng chè đặc sản nổi tiếng với quy mô sản xuất lớn nhất, được mệnh danh là “ngũ đại danh trà” đó là: Vùng chè Tân Cương (xã Tân Cương), vùng chè La Bằng (xã La Bằng), vùng chè Trại Cài (xã Đồng Hỷ), vùng chè Khe Cốc (xã Vô Tranh) và vùng chè Bằng Phúc (xã Đồng Phúc).

Tân Cương chính là danh xưng tiêu biểu nhất, đóng vai trò hạt nhân làm nên thương hiệu chè Thái Nguyên vang danh trong nước và quốc tế.
Nghề trồng và chế biến chè Tân Cương bắt đầu từ đầu những năm 20 của thế kỷ 20, hiện nay vùng chè Tân Cương có tổng diện tích khoảng 1.400 ha, sản lượng trên 22.000 tấn/năm, với những điều kiện đặc trưng về thổ nhưỡng và khí hậu cùng với kỹ năng trồng và chế biến chè đã tạo nên chất lượng đặc biệt của vùng chè Tân Cương, được đánh giá là vùng đất “Đệ nhất danh trà” của tỉnh Thái Nguyên”.
Năm 2007, Cục Sở hữu trí tuệ cấp văn bằng bảo hộ chỉ dẫn địa lý “Tân Cương” gồm 6 xã: Tân Cương, Phúc Xuân, Phúc Trìu, Thịnh Đức, Quyết Thắng và Phúc Hà thuộc thành phố Thái Nguyên (nay thuộc các xã Tân Cương, Quyết Thắng và Đại Phúc). Ngày 14/2/2023, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Quyết định số 240/QĐ-BVHTTDL về việc công bố danh mục Di sản Văn hóa phi vật thể Quốc gia đối với “Tri thức trồng và chế biến chè Tân Cương” cho các xã thuộc vùng chè Tân Cương; Sản phẩm chè Tân Cương được Hội kỷ lục gia Việt Nam công nhận lọt vào TOP 100 đặc sản quà tặng Việt Nam.
Đứng chân trên vùng lõi của vùng chè đặc sản Tân Cương, tỉnh Thái Nguyên, Hợp tác xã Chè Hảo Đạt (xã Tân Cương, tỉnh Thái Nguyên) đã chăm sóc, chế biến chè truyền thống từ nhiều năm nay, góp phần đưa sản phẩm trà Tân Cương ngày càng phát triển, nâng cao chất lượng, mở rộng thị trường, tạo công ăn việc làm cho người lao động địa phương, chắp cánh cho thương hiệu chè Tân Cương ngày càng vươn xa.
Bà Đào Thanh Hảo, Giám đốc Hợp tác xã chia sẻ: “Hiện tại, Hợp tác xã có vùng nguyên liệu hơn 40 ha, sản lượng 400-500 tấn chè búp tươi/năm theo tiêu chuẩn VietGAP và hữu cơ, áp dụng đồng nhất quy trình chăm sóc, bón phân, phòng trừ sâu bệnh bằng chế phẩm sinh học. Từ những lá chè đặc sản Tân Cương được sản xuất an toàn VietGAP, chất lượng chè khó nơi nào có được… Sản phẩm trà Tôm nõn của Hợp tác xã được công nhận OCOP 5 sao vào tháng 6/2021, trở thành sản phẩm OCOP 5 sao đầu tiên của tỉnh Thái Nguyên".

Theo bà Đào Thanh Hảo, đằng sau mỗi ấm trà là cả một câu chuyện, từ bàn tay người nông dân chăm sóc, thu hái và chế biến,.. nhờ vậy mà trà Thái Nguyên nói chung, trà Tân Cương nói riêng không chỉ là sản phẩm đơn thuần, mà còn là kết tinh của văn hóa truyền thống và tinh hoa dân tộc. Điển hình như sản phẩm chè Đinh sao tay truyền thống của Hợp tác xã được tạo ra từ những búp chè non được tuyển chọn kĩ lưỡng tại những đồi chè Tân Cương đạt tiêu chuẩn hữu cơ. Được thu hái theo tiêu chuẩn một búp non nhọn nhất trong khoảng thời gian từ 5h00 đến 6h00 khi búp chè còn đọng sương và chưa có ánh nắng mặt trời. Chè được thu hái trong khoảng thời gian này sẽ đạt độ non, mướt và tinh khiết nhất.
Người hái cũng phải là người có kinh nghiệm, đôi bàn tay phải thật khéo, bởi chỉ 1 chút sơ xuất thôi là búp chè sẽ mất đi độ hoàn hảo.

Sự khác biệt của chè Đinh sao tay truyền thống của Hợp tác xã chè Hảo Đạt không chỉ đến từ vùng nguyên liệu sạch, thổ nhưỡng lý tưởng của Tân Cương mà còn nằm ở quy trình sao tay truyền thống được gìn giữ qua nhiều thế hệ. Từng mẻ chè nhỏ được sao bằng tay trên chảo gang với sự kiên nhẫn và tinh tế của nghệ nhân giàu kinh nghiệm. Nhiệt độ, thời gian, thao tác…tất cả đều không có máy móc nào thay thế được. Khi pha, trà có màu nước xanh non hơi chút ánh vàng, đượm hương cốm non, vị chát dịu nhẹ, hậu ngọt rất sâu và bền..

Tại xã La Bằng, vùng đất nằm dưới chân dãy núi Tam Đảo có điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng thuận lợi cho cây chè phát triển. Vùng chè nơi đây được mệnh danh là một trong “ngũ đại danh trà” của Thái Nguyên. Tại đây, Hợp tác xã Chè La Bằng là một điểm sáng về sự sáng tạo, bền bỉ trong sản xuất và xây dựng thương hiệu, đưa sản phẩm chè truyền thống vươn lên thành thương hiệu uy tín, gắn với văn hóa trà Việt.

Từ vùng nguyên liệu sạch, sản phẩm Đinh Tâm Trà của hợp tác xã được chọn làm quà tặng cho các nguyên thủ quốc gia tại Hội nghị APEC 2017 ở Đà Nẵng; nhiều sản phẩm đạt chuẩn OCOP 3- 4 sao, được bình chọn là sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp quốc gia nhiều năm liền. Đặc biệt, đầu tháng 5/2026, sản phẩm Thanh Hải trà- trà Tôm nõn thượng hạng được công nhận đạt chuẩn OCOP 5 sao cấp quốc gia,… đã khẳng định thương hiệu chè La Bằng trên thị trường.

Bà Nguyễn Thị Hải, Chủ tịch Hội đồng quản trị Hợp tác xã chè La Bằng cho biết, hợp tác xã tiên phong sản xuất chè an toàn, kiên quyết nói không với hóa chất độc hại, áp dụng các tiêu chuẩn VietGAP và hữu cơ. Hiện, Hợp tác xã quản lý 37ha chè (20ha đạt VietGAP, 17ha hữu cơ), mỗi năm cho trên 500 tấn chè búp tươi với quy trình sản xuất nghiêm ngặt, bảo đảm an toàn cho người làm và người tiêu dùng.
Bên cạnh đó, để nâng cao chất lượng sản phẩm, hợp tác xã đã đầu tư xây dựng nhà xưởng chế biến rộng 1.000m2 với hệ thống máy móc hiện đại gồm: máy sao chè bằng gas, máy sao chè bằng điện, máy vò chè, máy đóng gói liên hoàn, máy hút chân không, cân định lượng điện tử và máy nghiền bột matcha… Toàn bộ quy trình sản xuất - chế biến áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 22000:2018. Các sản phẩm của Hợp tác xã La Bằng đều có truy xuất nguồn gốc rõ ràng, bao bì đẹp, tiện dụng, được phân phối không chỉ ở thị trường trong nước mà còn trên nhiều sàn thương mại điện tử như: Shopee, Lazada, TikTok...

Cùng với đổi mới công nghệ, Hợp tác xã đặc biệt chú trọng đa dạng hóa sản phẩm để đáp ứng thị hiếu thị trường. Cụ thể, ngoài chè xanh truyền thống còn có matcha trà xanh, hồng trà, kẹo trà xanh, bột ngâm chân… Mỗi sản phẩm vừa đảm bảo chất lượng vừa có tính sáng tạo, góp phần nâng cao giá trị thương hiệu.
La Bằng hiện có 1.135,7 ha chè, trong đó 1.079,3 ha chè kinh doanh và 56,4 ha chè kiến thiết cơ bản. Hiện La Bằng có 360 ha chè được chứng nhận VietGAP, 17 ha được chứng nhận hữu cơ và 65,31 ha được cấp mã số vùng trồng. Đây là cơ sở quan trọng để vùng chè từng bước đáp ứng yêu cầu của thị trường, nhất là khi người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến nguồn gốc và an toàn thực phẩm.
Chè La Bằng đã được cấp nhãn hiệu tập thể “Chè La Bằng” từ năm 2011. Từ nguyên liệu chè, các cơ sở đã phát triển nhiều sản phẩm đa dạng như chè Đinh, chè Móc câu, chè Tôm nõn, chè xanh, Hồng trà, Matcha và các sản phẩm trà ướp hương bưởi, hương sen. Đặc biệt, chương trình OCOP đang tạo thêm động lực để các chủ thể nâng cao chất lượng sản phẩm. La Bằng có 6 sản phẩm chè từng được chứng nhận OCOP. Trong đó, Thanh Hương Trà của Hợp tác xã Chè Cầu Đá được công nhận OCOP 3 sao năm 2025; Thanh Hải Trà của Hợp tác xã Chè La Bằng được công nhận OCOP 5 sao vào tháng 4/2026.
Giá trị sản phẩm cũng có sự khác biệt lớn giữa chè nguyên liệu và chè thành phẩm. Chè búp tươi hiện được người dân bán với giá khoảng 35.000 - 70.000 đồng/kg tùy thời điểm. Trong khi đó, chè khô phổ biến có giá 200.000 - 500.000 đồng/kg; một số dòng chè đặc sản của các HTX có giá từ 800.000 đồng đến 1,5 triệu đồng/kg.

Nằm ở độ cao trên 1.200m so với mực nước biển nơi phía Bắc tỉnh Thái Nguyên, xã Đồng Phúc ẩn hiện trong làn mây mờ ảo quanh năm. Nơi sườn núi vắt ngang lưng trời ấy, hàng trăm gốc chè Shan tuyết cổ thụ rêu phong sừng sững đứng qua dâu bể thời gian, hấp thụ tinh hoa của đất trời để tạo nên vị trà hảo hạng, mở ra hành trình vươn tầm thế giới cho vùng đất được coi là một trong “ngũ đại danh trà” nổi tiếng của Thái Nguyên.
Hiện nay, Đồng Phúc có khoảng 309,2 ha diện tích chè Shan tuyết đang cho thu hoạch. Trong đó, theo khảo sát, đánh giá năm 2024 của Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc, trên địa bàn xã hiện có 740 cây chè Shan tuyết cổ thụ, phân bố tại 7 thôn. Các cây chè có chiều cao trung bình 5,3 m, đường kính gốc trung bình 19,2 cm, nhiều cây có thế dáng đẹp và tán rộng, tạo nên cảnh quan đặc sắc tự nhiên của vùng núi Đồng Phúc. Kết quả xác định tuổi cây cho thấy, tuổi trung bình của cây chè cổ thụ đạt khoảng 97 năm, nhiều cây trên 100 năm tuổi, cây trẻ nhất khoảng 65 năm tuổi. Đồng thời, qua rà soát, khảo sát thực địa, địa phương còn phát hiện 5 cây chè cổ thụ nằm sâu trong núi, có kích thước lớn với chu vi thân từ 150–200 cm, sinh trưởng tự nhiên, ổn định,… Đây là những cá thể chè có giá trị đặc biệt về nguồn gen, gắn liền với lịch sử canh tác lâu đời của Nhân dân địa phương.

Vào tháng 12/2025, Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam đã ban hành quyết định công nhận quần thể 12 cây chè Shan tuyết tại đây là Cây Di sản Việt Nam, khẳng định giá trị nguồn gen quý hiếm gắn liền với lịch sử canh tác lâu đời của đồng bào nơi đây.

Đứng bên gốc chè cổ thụ xòe rộng như chiếc ô khổng lồ, anh Triệu Ích Bảo, thôn Bằng Phúc 3 cho biết,gia đình anh sở hữu hơn 2 ha chè, trong đó có tới 1 ha là chè Shan tuyết cổ thụ tuổi đời từ 70 đến trên 100 năm. Ánh mắt lấp lánh niềm tự hào, anh Bảo xúc động nhớ lại “Từ năm 1996, khi bố mẹ tôi từ Cao Bằng chuyển về đây định cư thì những cây chè Shan cổ thụ này đã đứng sừng sững rồi. Ban đầu, gia đình chỉ hái lá nấu nước uống, sau mới biết sao chè đem bán. Trước đây chúng tôi chỉ làm trà xanh truyền thống, còn nay đã chế biến sâu thành hồng trà cao cấp được thị trường rất ưa chuộng. Ngày quần thể chè được công nhận là Cây Di sản Việt Nam, bà con mừng lắm, lượng du khách kéo về tham quan, mua chè ngày một đông, giá trị búp trà nâng lên rõ rệt”.
Ông Hà Văn Kiên, Tổ trưởng Tổ tự quản làng nghề chè Shan tuyết Bằng Phúc, xã Đồng Phúc chia sẻ, cây chè ở đây sống hoàn toàn nhờ tự nhiên và sức người. Bà con chỉ xới cỏ, bón phân chuồng hoai mục chứ tuyệt đối không dùng thuốc bảo vệ thực vật hay phân hóa học. Mỗi cân chè tươi hiện bán được từ 25.000 đến 80.000 đồng. Trung bình mỗi tháng, gia đình tôi có thu nhập ổn định từ 5 đến 8 triệu đồng, một khoản tiền không nhỏ giúp trang trải cuộc sống nơi vùng cao này.
Theo ông Kiên, trước đây nhà nào biết nhà nấy, thu hái manh mún. Nhưng hơn một năm trở lại đây, bà con đã chủ động liên kết thành lập Tổ hợp tác, bắt tay với các doanh nghiệp thu mua. Chúng tôi chăm sóc, thu hái nghiêm ngặt theo quy chuẩn doanh nghiệp, Nhà nước đề ra, nhờ vậy, giá chè tươi luôn cao và ổn định, người dân yên tâm bám đồi, bám cây để làm giàu.
Từ những búp chè ngấm sương núi, không chỉ chè xanh truyền thống ra đời mà các dòng sản phẩm cao cấp như hồng trà, bạch trà, trà túi lọc,… dần xuất hiện, thậm chí bước đầu chinh phục thị trường ở xa, khó tính.

Tổng diện tích trồng chè toàn tỉnh hiện có trên 22.350 ha, sản lượng chè búp tươi đạt trên 277.000 tấn/năm. Với cơ cấu giống tương đối phong phú: Giống chè Trung Du chiếm 17% tổng diện tích chè hiện có; giống chè nhập nội, chè lai cho năng suất, chất lượng tốt (LDP1, Kim Tuyên, Hương Bắc Sơn, TRI777, TRI5.0, Bát Tiên, Phúc Vân Tiên, LCT1, PH1, PH12, PH14, VN15,…) chiếm 80,7% tổng diện tích chè hiện có; giống chè Shan Tuyết chiếm 2,3% tổng diện tích chè hiện có.
.png)
Ông Dương Sơn Hà, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Thái Nguyên cho biết, các địa phương đã chú trọng đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong sản xuất, chế biến chè an toàn, chất lượng. Đây được xác định vừa là mục tiêu vừa là nhiệm vụ, giải pháp mang tính then chốt, quyết định sự phát triển bền vững của chè Thái Nguyên. Hầu hết diện tích chè của tỉnh được sản xuất thâm canh, áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất chè an toàn, hữu cơ nâng cao chất lượng sản phẩm và góp phần trong thúc đẩy việc phát triển nông nghiệp bền vững. Đến nay toàn tỉnh đã có 6.684,8 ha chè được cấp chứng nhận tiêu chuẩn GAP, hữu cơ (trong đó: 6.498 ha được cấp chứng nhận VietGAP, 186,8 ha được cấp chứng nhận hữu cơ), chiếm 30% tổng diện tích chè (mục tiêu đến hết năm 2026 có trên 40% diện tích chè được chứng nhận tiêu chuẩn GAP, hữu cơ). Các địa phương đang tiếp tục tập trung phát triển mạnh ứng dụng quy trình canh tác chè an toàn, chất lượng, tăng sử dụng phân bón hữu cơ, chế phẩm và thuốc trừ sâu sinh học; thâm canh chè ứng dụng công nghệ tưới nước chủ động, tiết kiệm, đến nay đã có trên 7.500 ha (chiếm 34 % diện tích chè toàn tỉnh). Việc thâm canh chè theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ, sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc hữu cơ, sinh học, áp dụng phương pháp tưới chủ động trong sản xuất chè đã góp phần cải tạo đất, môi trường, từng bước hướng tới sản xuất xanh và bền vững, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị sản phẩm, mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Việc thiết lập và cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói nông sản là yêu cầu bắt buộc của các thị trường và thông lệ quốc tế nhằm đảm bảo tuân thủ quy định của nước nhập khẩu về kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc. Để mở rộng thị trường xuất khẩu chè của tỉnh góp phần nâng cao uy tín của nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế và tăng kim ngạch xuất khẩu. Từ năm 2020 đến nay, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã triển khai, tuyên truyền, hướng dẫn xây dựng thiết lập mã vùng trồng chè trong tỉnh. Hiện nay trên địa bàn tỉnh đang thực hiện hướng dẫn, quản lý, giám sát 147 mã vùng trồng chè với tổng diện tích 1.359,71 ha, trong đó có 122 mã số vùng trồng phục vụ tiêu thụ nội địa với diện tích 1.166,3 ha và 25 mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu với diện tích 193,37 ha.
Về chế biến, sản lượng chè qua chế biến toàn tỉnh hàng năm ước đạt 55,6 nghìn tấn, giá trị sản phẩm trà phấn đấu đến năm 2026 đạt 16,8 nghìn tỷ đồng. Trong sản xuất, sơ chế, chế biến chè đã ứng dụng cơ giới hóa các khâu sao, vò chè đảm bảo an toàn thực phẩm. Các thiết bị chế biến thủ công cũ, lạc hậu, không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đã được thay thế bằng các thiết bị chế biến mới, bán công nghiệp (tôn quay Inox, máy sao bằng gas, máy sao chè bằng điện tự động) bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, đã góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng chè. Việc đầu tư cho khâu chế biến, trong thời gian qua các cơ sở sản xuất cũng tăng cường đầu tư cho khâu đóng gói, bảo quản (sử dụng máy hút chân không, máy ủ hương, máy đóng gói tự động, kho bảo quản lạnh,...) cải tiến mẫu mã sản phẩm, bao bì, dán tem nhãn để truy nguyên nguồn gốc sản phẩm vì vậy chất lượng và giá trị sản phẩm chè của Thái Nguyên được nâng cao, cải tiến một cách rõ nét. Hiện đã có trên 80% hợp tác xã, doanh nghiệp, mạnh dạn đầu tư công nghệ đóng gói tự động, sử dụng tem điện tử để truy xuất, minh bạch nguồn gốc xuất sứ sản phẩm.

Đến nay, toàn tỉnh có 204 sản phẩm chè đạt chứng nhận OCOP từ 3-5 sao, trong đó có 6 sản phẩm OCOP 5 sao cấp quốc gia; 56 cơ sở sản xuất, kinh doanh chè được xác nhận theo chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn.

Ông Vũ Văn Phán, Chủ tịch Hội chè Thái Nguyên cho biết, hệ thống bảo hộ sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm chè Thái Nguyên đã đươc hình thành tương đối đây đủ, bao gồm 1 chỉ dẫn địa lý Tân Cương, 12 nhãn hiệu tập thể và 2 nhãn hiệu chứng nhận. Trong đó, Nhãn hiệu tập thể “Chè Thái Nguyên” đã được bảo hộ tại 6 quốc gia và vùng lãnh thổ gồm Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc). Chỉ dẫn địa lý “Tân Cương” được bảo hộ tại Liên minh châu Âu (EU) trong khuôn khổ Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA). Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để xác lập, quản lý, khai thác và phát triển tài sản trí tuệ; bảo vệ danh tiếng, chất lượng và nguồn gốc sản phẩm; hạn chế việc sử dụng trái phép, giả mạo nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý; đồng thời góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trường tiêu thụ và hỗ trợ hoạt động xuất khẩu chè Thái Nguyên. Việc bảo hộ và phát triển tài sản trí tuệ cũng góp phần gắn sản phẩm chè với điều kiện tự nhiên, kỹ thuật sản xuất và danh tiếng của vùng địa lý; tạo cơ sở thúc đẩy liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, nâng cao giá trị sản phẩm và thu nhập của người sản xuất. Đồng thời, đây là nền tảng quan trọng để tăng cường quảng bá hình ảnh, văn hóa trà Thái Nguyên, đáp ứng ngày càng tốt hơn các yêu cầu về chất lượng, nguồn gốc và truy xuất nguồn gốc của thị trường trong nước và quốc tế.
Thị trường tiêu thụ trong nước là thị trường tiềm năng, lợi thế của sản phẩm chè Thái Nguyên, lợi thế cả về giá bán và thị phần tiêu thụ. Khối lượng và giá trị sản phẩm chè Thái Nguyên xuất khẩu đạt thấp (trong 9 tháng, sản lượng chè xuất khẩu đạt 0,07 nghìn tấn, giá trị xuất khẩu đạt 0,08 triệu USD thị trường xuất khẩu chủ yếu là Pakistan …). Một số doanh nghiệp, hợp tác xã đang từng bước tăng cường tiếp cận, mở rộng thị trường xuất khẩu như: Công ty cổ phần Chè Tân Cương Hoàng Bình, Công ty cổ phần Chè Hà Thái, Công ty Trách nhiệm hữu hạn MTV Trà Hùng Thái, Hợp tác xã chè Khe Cốc, Hợp tác xã chè Hảo Đạt,... Các đơn vị đã thực hiện xuất khẩu theo hình thức ủy thác sang một số thị trường như Hoa Kỳ, Pháp, Cộng hòa Séc,... Tuy nhiên, sản lượng xuất khẩu còn thấp, chưa thường xuyên và chưa hình thành được thị trường xuất khẩu ổn định.
Để quảng bá thương hiệu, nâng cơ hội tìm kiếm và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm trà Thái Nguyên, tỉnh đã tổ chức thành công nhiều Festival trà, lễ hội văn hóa trà; hội chợ triển lãm sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao, hội chợ triển lãm “Mỗi xã một sản phẩm” chủ yếu với các sản phẩm chè, đồng thời tổ chức, tham gia nhiều hoạt động xúc tiến thương mại trong nước và quốc tế về chè; đặc biệt các doanh nghiệp chè Thái Nguyên đã tham gia nhiều cuộc thi chất lượng chè quốc tế và đã đạt được những giải rất cao (cuộc thi chất lượng chè Bắc Mỹ – Canada, Thái Nguyên đoạt giải đặc biệt và giải bạc năm 2016, 2017).
Nghị quyết số 11-NQ/TU ngày 02/3/2025 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển ngành chè Thái Nguyên giai đoạn 2025-2030, trong đó mục tiêu đến năm 2030 tổng giá trị sản phẩm chè đạt khoảng 25 nghìn tỷ VND; diện tích khoảng 24.500 ha; sản lượng búp tươi đạt trên 300.000 tấn/năm; 70% diện tích đạt chuẩn GAP hoặc hữu cơ; 70% diện tích được cấp mã số vùng trồng; 100% số cơ sở sản xuất chế biến, kinh doanh chè và các sản phẩm từ chè đảm bảo quy định an toàn thực phẩm; 100% doanh nghiệp, hợp tác xã có vùng nguyên liệu ứng dụng công nghệ số trong canh tác, quản lý chuỗi, quản lý nông sản từ quá trình sản xuất, thu hoạch,…đảm bảo truy xuất nguồn gốc; có ít nhất 250 sản phẩm OCOP trở lên, trong đó tối thiểu 6 sản phẩm OCOP 5 sao.
Tỉnh sẽ đẩy mạnh quy hoạch các vùng sản xuất chè theo tiêu chuẩn GAP, hữu cơ tạo ra vùng nguyên liệu chất lượng cao cho chế biến; số hóa các vùng sản xuất chè theo quy hoạch để quản lý, bảo vệ tối đa diện tích trồng chè hiện có, chuyển một phần diện tích rừng sản xuất ngoài quy hoạch, đất vườn, đất trồng lúa kém hiệu quả sang đất trồng chè để mở rộng diện tích. Tiếp tục trồng mới, thay thế diện tích chè già cỗi, năng suất thấp,… bằng các giống chè có năng suất, chất lượng cao, cơ cấu giống chè có năng suất, chất lượng cao đến năm 2030 đạt 85%- 90% tổng diện tích, giống chè Trung du đạt 10- 15%./.
Thực hiện: Trần Trang - Hoàng Nguyên
Thiết kế: Dương Linh