Bài 3: Những “cột mốc mềm” nơi biên giới: Tầm nhìn chiến lược của Đảng
Mega Story - Ngày đăng : 20:18, 30/09/2026
Bài 3: Những “cột mốc mềm” nơi biên giới: Tầm nhìn chiến lược của Đảng
Ở tuổi 91, thầy Lê Thúc Kỷ vẫn rưng rưng khi nhắc tới Trường Sam Mứn. Gần 70 năm trước, chàng sinh viên Lê Thúc Kỷ mới 23 tuổi, vừa tốt nghiệp Trường Trung cấp sư phạm Trung ương đã nghe theo tiếng gọi của Đảng, của Bác Hồ tình nguyện lên với vùng cao, cùng nhân dân trộn rơm đắp đất làm tường, chặt tre, xẻ gỗ làm bàn ghế, mở Trường Sam Mứn. Giữa núi rừng, tiếng ê a đánh vần của học sinh lần đầu tiên vang lên rộn rã.

Ở tuổi 91, thầy Lê Thúc Kỷ vẫn rưng rưng khi nhắc tới Trường Sam Mứn. Gần 70 năm trước, chàng sinh viên Lê Thúc Kỷ mới 23 tuổi, vừa tốt nghiệp Trường Trung cấp sư phạm Trung ương đã nghe theo tiếng gọi của Đảng, của Bác Hồ tình nguyện lên với vùng cao, cùng nhân dân trộn rơm đắp đất làm tường, chặt tre, xẻ gỗ làm bàn ghế, mở Trường Sam Mứn. Giữa núi rừng, tiếng ê a đánh vần của học sinh lần đầu tiên vang lên rộn rã.
Từ ngôi trường Sam Mứn trình tường gần 70 năm trước đến ngôi Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Sam Mứn khang trang, hiện đại hôm nay là sự không ngừng nỗ lực đầu tư cho vùng cao với quan điểm xuyên suốt của Đảng và Nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực, về chiến lược “trồng người” để giữ vững phên dậu vùng biên.

Năm 1959, trước thực trạng 99% dân số vùng cao mù chữ, hủ tục nặng nề, việc phát triển văn hóa giáo dục ở các tỉnh miền núi được Đảng xác định là một yêu cầu “cấp thiết”.
Mùa Thu năm 1959, thầy Lê Thúc Kỷ là một trong 860 giáo viên đầu tiên tình nguyện lên vùng cao. Phải “đẩy mạnh phát triển giáo dục, làm cho đồng bào và thanh thiếu niên miền núi có chỗ học và được đi học” là nhiệm vụ được Phủ Thủ tướng nêu rõ trong Thông tư số 3116 –A7 ngày 15/8/1959 về điều động giáo viên miền xuôi lên miền núi; phải "tăng cường công tác giáo dục," "ra sức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ địa phương” cho miền núi là yêu cầu được Ban Bí thư Trung ương Đảng nêu rõ trong chỉ thị số 128-CT/TW tháng 2/1959.

“Muôn vàn gian khổ, có những khi suốt mấy tháng liền không được ăn một hạt cơm, quần áo không đủ mặc, nhưng chúng tôi hiểu đây là không chỉ là nhiệm vụ giáo dục mà còn là nhiệm vụ chính trị. Ai cũng nỗ lực hết mình, phải ‘xung phong đến nơi đến chốn’ như lời Bác dạy, phải ‘cắm được lá cờ đỏ - lá cờ của Đảng- trên đỉnh núi cao và hãy phất cao ngọn cờ ấy’ như lời đồng chí Chu Văn Tấn đã thay mặt Trung ương Đảng dặn dò trước lúc lên đường,” thầy Lê Thúc Kỷ xúc động nói.
Từ năm 1959, hàng nghìn thầy cô đã tình nguyện vượt núi, băng rừng, chặt tre dựng lớp, mở trường giữa đại ngàn. Cùng với sự quan tâm đầu tư của Đảng, Nhà nước, từ trắng lớp, trắng trường, hệ thống cơ sở giáo dục đã phủ khắp tới từng thôn bản, tạo điều kiện để người dân “ai cũng được học hành” đúng như mong mỏi của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Từ những “viên gạch đầu tiên” được xây dựng bởi lớp giáo viên tình nguyện miền xuôi, trong gần 70 năm qua, giáo dục vùng cao đã có những bước tiến vượt bậc cả về số lượng và chất lượng ở tất cả các cấp học. Từ những lớp học i tờ đầu tiên của những người thầy miền xuôi tình nguyện lên cắm bản, lớp lớp thế hệ học trò vùng cao đã lớn lên, trở thành những lãnh đạo cốt cán của địa phương hay đi công tác ở nhiều tỉnh, thành trên cả nước.
Khi kinh tế đất nước phát triển hơn, từ năm 2002, Đảng và Nhà nước đã triển khai hàng loạt đề án kiên cố hóa trường học. Những ngôi trường tranh, tre, nứa lá đã dần được thay thế bằng tường gạch, đảm bảo an toàn và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc dạy và học, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, chất lượng nhân lực vùng biên. Đến năm 2025, vùng dân tộc thiểu số đã có hơn 20.000 trường học, tỷ lệ phòng học kiên cố hóa đạt 89,6%, nhưng quy mô trường lớp nhỏ lẻ là một rào cản lớn cho đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục.

Khu vực vùng biên, các trường dân tộc nội trú luôn là cơ sở giáo dục có quy mô lớn nhất và có chất lượng cao nhất. Nhiều trường dân tộc nội trú đạt tỷ lệ học sinh tốt nghiệp 100%; khoảng 60% học sinh trường nội trú thi đỗ đại học. Xây trường nội trú vì thế là yêu cầu bức thiết, là giải pháp chiến lược để phát triển giáo dục vùng cao.
Phát biểu tại lễ khởi công, động thổ đồng loạt 121 trường phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học Cơ sở tại các xã biên giới đất liền giai đoạn 2 ngày 19/3/2026, Tổng Bí thư Tô Lâm bày tỏ tin tưởng các Trường phổ thông nội trú liên cấp sẽ trở thành nhiều "cột mốc mềm" về giáo dục vùng biên, góp phần đào tạo nguồn nhân lực, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội bền vững và tiếp tục thắp sáng niềm tin cho tương lai vùng biên cương Tổ quốc.
Và với 108 trường dân tộc nội trú vùng biên chính thức đi vào hoạt động từ năm học 2026-2027, 108 “cột mốc mềm” đã được dựng lên. Theo ông Cù Huy Hoàn, Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Điện Biên, hệ thống trường lớp khang trang, hiện đại, đồng bộ sẽ góp phần cải thiện điều kiện học tập, sinh hoạt, chăm sóc và phát triển toàn diện cho học sinh. Cơ chế chính sách đặc thù giúp học sinh yên tâm học tập, phụ huynh yên tâm lao động, sản xuất, phát triển kinh tế. Trường học cũng sẽ trở thành một hạt nhân để ổn định dân cư, nâng cao trình độ dân trí, góp phần quan trọng trong giữ vững an ninh quốc phòng của các xã biên giới.
“Đối với địa bàn biên giới, giáo dục gắn chặt với nhiệm vụ giữ dân, giữ đất và xây dựng thế trận lòng dân, những ngôi trường khang trang ngay tại các xã biên giới thể hiện sự quan tâm cụ thể của Đảng, Nhà nước đối với đồng bào và thế hệ trẻ vùng biên,” ông Hoàn nói.
Điều này đã được Bộ Chính trị nêu rõ trong Thông báo số 81-TB/TW: “Việc đầu tư xây dựng trường học cho các xã biên giới đất liền là một nhiệm vụ trọng tâm, quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện chính sách dân tộc nhằm nâng cao dân trí, chất lượng nhân lực, tạo nguồn cán bộ là người dân tộc, địa phương, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào vùng biên giới, góp phần củng cố quốc phòng, an ninh.”


Phát biểu tại lễ khởi công Trường phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Si Pa Phìn (tỉnh Điện Biên) ngày 27/7/2025, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh xây dựng trường lớp không chỉ để các cháu có điều kiện học tập tốt hơn, mà còn là hướng tới mục tiêu lâu dài để nâng cao chất lượng đời sống nhân dân cùng biên giới, góp phần giữ gìn chủ quyền lãnh thổ quốc gia từ gốc rễ, đó là con người, là cộng đồng dân cư gắn bó với đất, với rừng, với đường biên cột mốc.
.png)
Chủ trương xây trường nội trú liên cấp vùng biên với quy mô lớn, tiêu chuẩn cao là quyết sách đột phá của Đảng trong tháo gỡ nút thắt giáo dục vùng biên. Chương trình giáo dục phổ thông mới được triển khai từ năm 2018 theo yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đặt ra những yêu cầu mới về cơ sở vật chất và đội ngũ. Mô hình trường lớp nhỏ lẻ ở miền núi phù hợp với việc bám bản nhưng khó đáp ứng yêu cầu đổi mới.
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, việc có nhiều điểm trường lẻ quy mô nhỏ khiến nguồn lực bị chia nhỏ, khó đầu tư và sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất cũng như đội ngũ giáo viên, nhất là khi nguồn lực đất nước vẫn còn hạn chế. Trước thực trạng này, Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII yêu cầu rà soát, sắp xếp lại quy mô lớp học và thu gọn các điểm trường trên nguyên tắc tạo thuận lợi cho người dân, phù hợp với thực tế vùng miền.
Từ năm 2018, ngành giáo dục đã triển khai mạnh mẽ việc dồn điểm trường lẻ, nhất là ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Trong điều kiện giao thông thuận lợi hơn, dồn điểm lẻ về điểm chính là chủ trương đúng, nhưng quá trình thực hiện gặp nhiều khó khăn do sự phản đối của người dân. Đến hết năm học 2025-2026, số điểm trường lẻ vẫn rất lớn, riêng tỉnh Gia Lai có tới gần 1.300 điểm lẻ, gây khó khăn cho việc trang cấp thiết bị đồng bộ và tổ chức các hoạt động giáo dục hiện đại như STEM hay ứng dụng công nghệ.
Nguyên nhân chính khiến việc dồn điểm trường lẻ chưa tạo được sự đồng thuận của phụ huynh là học sinh phải đi học xa, gia đình khó đưa đón, trong khi số trường bán trú, nội trú chưa đáp ứng nhu cầu.
Theo tờ trình số 973/TTr-BGDĐT ngày 15/7/2025 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tính đến tháng 7/2025, 248 xã biên giới đất liền có 956 trường phổ thông, trong đó chỉ có 22 trường phổ thông nội trú cấp trung học phổ thông (chiếm tỷ lệ 2,3%), 160 trường phổ thông bán trú cấp tiểu học và trung học cơ sở (chiếm 16,7%).
Tỷ lệ trường nội trú, bán trú rất khiêm tốn trong khi nhu cầu của học sinh rất cao do điều kiện đi lại xa xôi và kinh tế khó khăn. Thống kê cho thấy có 332.019 em có nhu cầu ở nội trú, bán trú, chiếm 53% trên tổng số 625.255 học sinh. Tuy nhiên, chỉ có 59.000 học sinh được học tại các trường nội trú, bán trú; hơn 273.000 em có nhu cầu nhưng chưa được đáp ứng.
Chỉ 9,4% học sinh các xã biên giới được hưởng chính sách nội trú, bán trú; còn trên 90% (tương ứng khoảng 562.730 học sinh) chưa được tiếp cận chính sách. Trên thực tế, nhiều trường phải kêu gọi các nhà hảo tâm, các chương trình, tổ chức thiện nguyện hỗ trợ bữa ăn trưa cho các em học sinh không được hưởng chính sách.
Cơ sở vật chất trường học đa phần còn thiếu thốn nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sinh hoạt, học tập và mục tiêu chuyển đổi số. Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, để đảm bảo điều kiện học tập, sinh hoạt nội trú, bán trú cho học sinh, các trường vùng biên cần đầu tư bổ sung hơn 6.000 phòng học lý thuyết; gần 8.000 phòng ở nội trú cho học sinh, gần 4.000 nhà bếp, nhà ăn, phòng quản lý học sinh, phòng sinh hoạt chung, nhà văn hóa; trên 3.400 phòng công vụ cho giáo viên.

Để gỡ “nút thắt” cho giáo dục vùng cao, Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất phương án xây dựng mỗi xã vùng biên giới đất liền có ít nhất một trường nội trú, bán trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở. Tổng số vốn khoảng 37.226 tỷ đồng, trong đó 90% ngân sách trung ương, 10% ngân sách địa phương và huy động các nguồn lực khác.
Ngày 18/7/2025 là một ngày đặc biệt với giáo dục vùng biên khi Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú công bố Thông báo số 81-TB/TW thông báo kết luận của Bộ Chính trị về việc thống nhất chủ trương đầu tư xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại 248 xã biên giới đất liền theo đề xuất của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Thông báo nêu rõ yêu cầu rất khẩn trương về tiến độ xây dựng: đầu tư hoàn thành xây mới hoặc cải tạo 100 trường trong năm 2025 chậm nhất là đến thời điểm khai giảng năm học 2026-2027, sau đó tiếp tục triển khai diện rộng, hoàn thành mục tiêu đầu tư xây dựng 248 trường trong 2-3 năm. Các trường được đầu tư phải bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật, quy mô, diện tích trường, lớp; có đủ cơ sở vật chất phục vụ việc học tập, rèn luyện văn hoá, tinh thần, thể chất, điều kiện sinh hoạt và tuyệt đối an toàn.
Chủ trương xây trường học nội trú vùng biên tiếp tục được Bộ Chính trị nêu rõ trong Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Theo ông Phạm Văn Sinh, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch-Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong bối cảnh ngành giáo dục suốt hơn 20 năm vẫn chưa thể hoàn thành được kiên cố hóa trường lớp học, gần 10 năm vẫn loay hoay với bài toán dồn điểm trường lẻ, đây thực sự là quyết sách đột phá. Quyết sách đó đã mở đầu cho chiến dịch xây dựng thần tốc chưa từng có và chỉ sau 8 tháng đã mang đến hơn 100 ngôi trường nội trú trong mơ cho thầy và trò vùng khó, gỡ “nút thắt” phát triển giáo dục vùng cao.
.png)
Là một trong những tỉnh nghèo nhất cả nước và có số xã vùng biên nhiều nhất, Thực hiện Thông báo số 81-TB/TW của Bộ Chính trị, tỉnh Điện Biên đã và đang triển khai xây dựng 15 dự án trường nội trú tại 15 xã biên giới trên địa bàn tỉnh, với tổng mức đầu gần 3.900 tỷ đồng. Trong đó có 9 dự án khởi công năm 2025 với tổng đầu tư trên 2.239 tỷ đồng, 5 dự án khởi công năm 2026 với tổng mức đầu tư 1.370 tỷ đồng.
“Đây là chương trình đầu tư cho giáo dục có quy mô lớn nhất từ trước đến nay trên địa bàn tỉnh Điện Biên,” ông Cù Huy Hoàn, Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Điện Biên cho biết.
Năm học 2026-2027, 10 trường phổ thông dân tội nội trú tại các xã biên giới trên địa bàn tỉnh đã được giao tuyển 302 lớp với 10.148 học sinh. Theo ông Hoàn, trước đây, nhiều học sinh vùng cao phải học tại các điểm trường lẻ nhỏ, điều kiện còn hạn chế; có em phải đi bộ quãng đường rất xa đến trường. Từ năm học này, với hệ thống trường nội trú được đầu tư đồng bộ, học sinh được học tập tập trung, được ăn, ở và chăm sóc tại trường, được học với cơ sở vật chất hiện đại, khang trang. “Đây là bước tiến rất quan trọng trong việc thu hẹp khoảng cách về cơ hội tiếp cận giáo dục có chất lượng giữa vùng thuận lợi và vùng khó khăn,” ông Hoàn nói.

Công bằng trong cơ hội tiếp cận giáo dục chất lượng là vấn đề đã được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhiều lần nhấn mạnh và tiếp tục khẳng định tại buổi làm việc ngày 25/8 về đánh giá kết quả 1 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW: Mục tiêu chung là không để một học sinh nào bị hạn chế cơ hội học tập vì thiếu trường, thiếu lớp, thiếu thầy cô; không để chất lượng giáo dục và tương lai của một đứa trẻ phụ thuộc quá nhiều vào nơi em được sinh ra và lớn lên.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn nhận định công bằng trong cơ hội tiếp cận giáo dục chất lượng là mục tiêu hàng đầu, bao trùm và xuyên suốt của Bộ Chính trị trong Nghị quyết 71. Việc xây dựng trường biên giới vùng biên là một chương trình cụ thể thực hiện chủ trương này.
Theo Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn, thực tiễn giáo dục vùng biên cho thấy học sinh vẫn khó đến trường do đường sá xa xôi, điều kiện đưa đón của gia đình hạn chế và bữa ăn hàng ngày chưa đảm bảo. Vì vậy, chủ trương của Bộ Chính trị về xây dựng 248 trường tại các xã biên giới với đầy đủ điều kiện cơ sở vật chất, điều kiện học tập, sinh hoạt là giải pháp mang tính chiến lược.
Cùng với 108 trường sẽ đi vào vận hành từ năm học 2026-2027, Chính phủ đã ban hành Nghị định 188 với đầy đủ các chính sách đảm cho học sinh được lo toàn bộ chi phí học hành, ăn, ở tại trường. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 12/2026/TT-BGDĐT về quy chế tổ chức và hoạt động của trường phổ thông nội trú, tạo hành lang pháp lý để trường hoàn thiện bộ máy, bố trí nhân lực và vận hành hiệu quả.
.png)
Từ thực tiễn quản lý giáo dục vùng biên, ông Cù Huy Hoàn cho hay cơ sở vật chất đầy đủ, hiện đại, trường lớp khang trang, học sinh được học tập tập trung sẽ giúp nhà trường có điều kiện tổ chức dạy học 2 buổi/ngày, tăng cường ngoại ngữ, tin học, kỹ năng sống; từng bước khắc phục tình trạng dạy ghép lớp, dạy chéo môn, nâng cao tỷ lệ chuyên cần và hạn chế học sinh bỏ học. Đội ngũ giáo viên cũng được tập trung, có điều kiện sinh hoạt chuyên môn, bồi dưỡng và ổn định công tác tốt hơn. Đây là điều kiện tiên quyết để nâng cao chất lượng giáo dục, từ đó nâng cao chất lượng nhân lực vùng biên.
Cùng chia sẻ này, ông Vũ Đức Thiện, Phó Bí thư, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Đức Long cho biết Đức Long là xã đặc biệt khó khăn của Cao Bằng. Xã có diện tích rộng hơn 107 km2 nhưng chủ yếu là đồi núi, chỉ có hơn 5.200 hộ dân. Nâng cao chất lượng nhân lực là điều địa phương luôn mong mỏi nhưng khó thực hiện do nguồn lực hạn chế.
Trong thời gian qua, các trường học trên địa bàn xã đã dần được kiên cố hóa nhưng cơ bản vẫn dựa trên nền móng đã được xây dựng từ nhiều chục năm trước, quy mô nhỏ hẹp. “Đây thực sự là ngôi trường trong mơ. Khi các em được học trong môi trường giáo dục chất lượng, được tiếp cận từ sớm với phương pháp giáo dục mới, với công nghệ, AI, các em sẽ có cơ hội phát triển bản thân tốt hơn, xã Đức Long sẽ có thế hệ tương lai giỏi hơn, năng động hơn, góp phần phát triển kinh tế - xã hội tốt hơn cho địa phương,” ông Thiện nói.
Điều này đã được chứng minh qua thực tiễn tại Trường Phổ thông nội trú Si Pa Phìn, tỉnh Điện Biên. Dù mới tổ chức dạy và học được một học kỳ, nhưng theo Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Điện Biên Lê Văn Lương, môi trường giáo dục được thay đổi rõ rệt, học sinh được học tập, ăn ở, sinh hoạt trong điều kiện tốt hơn, giảm khó khăn khoảng cách về địa lý, giáo viên có môi trường công tác chất lượng hơn, học sinh học tập hiệu quả hơn, phụ huynh cũng yên tâm hơn.

Theo Giáo sư, Tiến sỹ Trần Hoàng Ngân, Đại biểu Quốc hội khóa XVI, Nghị quyết Đại hội XIV của của Đảng đã xác định rõ mục tiêu Việt Nam sẽ phấn đấu tăng trưởng hai con số để sớm trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 - tròn 100 năm lập quốc. Để đạt mục tiêu đó, điều quan trọng nhất là phải tăng trưởng theo chiều sâu, tức tăng trưởng trên cơ sở nền tảng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Để tăng trưởng theo chiều sâu đòi hỏi rất nhiều yếu tố, trong đó yếu tố quan trọng nhất là con người.
Giáo sư Trần Hoàng Ngân nhận định chủ trương xây dựng các trường học biên giới là một bước đi đột phá chiến lược khi tập trung ngân sách quốc gia cho vùng khó, cho những địa phương do đặc điểm về địa lý, xã hội nên không thể tự cân đối nguồn lực đầu tư cho giáo dục. Từ cơ sở vật chất tốt sẽ tạo tiền đề cho nâng cao chất lượng giáo dục, thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa các vùng miền, từ đó nâng cao chất lượng nhân lực quốc gia.
Bên cạnh đó, để thực hiện mục tiêu đưa chất lượng giáo dục Việt Nam vươn tầm quốc tế, đến năm 2045 lọt tốp 20 quốc gia có nền giáo dục tốt nhất thế giới đã được Bộ Chính trị đặt ra trong Nghị quyết 71, việc vực chất lượng giáo dục từ vùng khó khăn nhất là giải pháp căn cơ.
.png)
Với 26 năm làm công tác giảng dạy, quản lý giáo dục khắp các rẻo trường vùng cao Điện Biên, thầy Nguyễn Trọng Sơn, Hiệu trưởng Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Sam Mứn (tỉnh Điện Biên) cho biết việc học sinh được ăn, ở nội trú tập trung có ý nghĩa rất lớn.
Các em không chỉ có điều kiện học tập trong môi trường tốt hơn mà còn có cơ hội mở rộng về tư duy, nhận thức, giao lưu văn hóa thông qua việc tiếp xúc với học sinh thuộc nhiều dân tộc khác nhau thay vì chỉ khu trú trong cộng đồng dân tộc mình, đặc biệt là khi ở một số đồng bào dân tộc vẫn còn một số hủ tục do truyền thống lâu đời, nhất là tảo hôn.
Theo thầy Sơn, việc tảo hôn khiến học sinh bỏ học sớm hoặc vẫn đi học nhưng không đảm bảo chất lượng giáo dục, việc đưa học sinh học tập trung trong môi trường mới càng có vai trò quan trọng.
Ngày 8/5/2026, lần đầu tiên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Điện Biên ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TU về phòng, chống tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh, giai đoạn 2026-2030.

“Môi trường giáo dục mới sẽ giúp thay đổi tư duy của một thế hệ mới. Đây là ý nghĩa xã hội rất lớn của các trường nội trú vùng biên khi các em được bước ra khỏi bản làng từ sớm để tiếp kiến với môi trường xã hội mới rộng lớn hơn, hiện đại hơn,” thầy Sơn nhận định.
Đây cũng là chia sẻ của ông Lã Phi Trường, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng. Ông Trường cho hay dù tỷ lệ tảo hôn, bỏ học đã giảm nhiều so với trước đây nhưng vẫn xảy ra ở bậc trung học cơ sở. Theo ông Trường, khi các em học tập tốt hơn, thay đổi nhận thức trong học sinh sẽ dần tạo sự chuyển biến trong gia đình, cộng đồng.
Tại xã Đức Long, ông Vũ Đức Thiện cho biết địa phương có 11 dân tộc cùng sinh sống, trong đó có một thôn đặc thù 100% là người Mông đen với 63 hộ có tập quán kết hôn trong cộng đồng. Theo ông, việc xây dựng trường nội trú sẽ tạo môi trường để học sinh ăn ở tập trung, gặp gỡ các cộng đồng dân tộc khác nhau, giao thoa văn hóa, mở rộng tri thức, từ đó dần thay đổi những tập quán không còn phù hợp.

Giáo sư Trần Hoàng Ngân, từ thực tiễn xây dựng “thần tốc” 108 trường nội trú biên giới đầu tiên cũng cho thấy hiệu quả khi có sự đồng thuận, sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương, sự quyết tâm cao của các ngành, các cấp. Đây cũng là nhiệm vụ, giải pháp đầu tiên được Bộ Chính trị đặt ra trong Nghị quyết 71: “Nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy và hành động, xác định quyết tâm chính trị mạnh mẽ để đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.”
Theo ông Phạm Văn Sinh, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch-Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo, việc xây dựng các trường phổ thông dân tộc nội trú ở các tỉnh biên giới đất liền giai đoạn 1 được tổ chức thực hiện với tinh thần nhanh, quyết liệt và thời gian rất gấp. Đây là một trong những chương trình lớn, quan trọng và chưa từng có tiền lệ.
Từ thực tiễn giai đoạn 1, để triển khai hiệu quả hơn 121 trường trong giai đoạn 2, có những điểm cần phải điều chỉnh, khắc phục.
Cụ thể như tiêu chí chọn địa điểm xây dựng. Giai đoạn 1 có trường chọn địa điểm chưa phù hợp, nền đất yếu, gây sạc lở, sụt lún, mất nhiều thời gian để xử lý và phát sinh chi phí. Có trường ở xa đường giao thông khiến vận chuyển nguyên liệu gặp khó khăn.

Ông Sinh cho hay từ kinh nghiệm thực tiễn này, đối với các trường giai đoạn 2, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có các văn bản chỉ đạo các địa phương về lựa chọn địa điểm phù hợp, đảm bảo an toàn, thuận tiện giao thông. Bên cạnh đó, việc lập, thẩm định dự án, phê duyệt dự án cũng như tổ chức triển khai phải đảm bảo đồng bộ, thống nhất nhằm rút ngắn thời gian thi công, đảm bảo hoàn thành đúng tiến độ.
Ông Sinh nhận định giai đoạn 2 thuận lợi hơn giai đoạn 1 khi các địa phương đã có kinh nghiệm hơn, thời gian dài hơn. Tuy nhiên, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề nghị các địa phương không chủ quan vì còn nhiều yếu tố khách quan như thiên tai, bão lũ, thiếu nhân công, thiếu nguyên vật liệu, vận chuyển khó khăn... Đặc biệt, với khu vực miền núi, đây là những nguy cơ rất hiện hữu. Vì vậy, cần đảm bảo tiến độ thi công để hoàn thành trong thời gian sớm nhất.
Thay vì đặt mốc ngày 30/8/2027, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng chỉ đạo các công trình cần đảm bảo xong trước một tháng so với dự định để có thời bù cho các công việc chưa kịp hoàn thành, nhằm đảm bảo các trường có thể đưa vào sử dụng từ năm học 2027-2028.
“Ngoài ra, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng chỉ đạo các địa phương khẩn trương bố trí nhân công, máy móc đối với các nhà thầu để đảm bảo thi công được an toàn và đúng tiến độ, đặc biệt là đảm bảo chất lượng, tránh trường hợp vì chạy tiến độ mà ảnh hưởng đến chất lượng công trình,” ông Sinh nói.
Cũng từ thực tế giai đoạn 1, hiệu trưởng các trường đề nghị nên xây dựng mô hình phòng ở khép kín cho các khu nhà nội trú học sinh thay vì xây nhà vệ sinh chung như hiện nay nhằm đảm bảo thuận tiện trong sinh hoạt cho học sinh. Khu vực nhà công vụ giáo viên cũng cần có khu nấu ăn để thầy cô không phải đặt suất ăn bên ngoài trường, điều vốn không thuận lợi với khu vực miền núi.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn cho biết thời gian tới, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ đánh giá sơ kết để có đề xuất với Bộ Chính trị, với Chính phủ nhằm tiếp tục triển khai tại các cái xã khác ở vùng khó khăn, không chỉ tại các xã biên giới./.



