Mega Story

Việt Nam - Câu chuyện kỳ tích kinh tế khiến thế giới kinh ngạc

Xuân Quảng - Hạnh Nguyễn 29/08/2025 17:07

80 năm sau sự kiện lịch sử, từ một quốc gia non trẻ kiệt quệ vì chiến tranh, phải Việt Nam đã vươn lên trở thành nước có thu nhập trung bình với thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 4.700 USD năm 2024, tăng khoảng 63 lần.

ky-tich-kinh-te-2025(2).png

Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đánh dấu một kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc - kỷ nguyên độc lập, tự do, nhân dân làm chủ đất nước. Sự kiện này không chỉ kết thúc một chuỗi dài đêm trường nô lệ, mà còn mở ra cho một hành trình kiến tạo đầy gian khó nhưng vô cùng kiêu hãnh của dân tộc Việt Nam anh hùng.

tuyen-ngon-doc-lap(2).png

80 năm sau sự kiện lịch sử, từ một quốc gia non trẻ kiệt quệ vì chiến tranh, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước có thu nhập trung bình với thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 4.700 USD năm 2024, tăng khoảng 63 lần; quy mô nền kinh tế tăng vọt gần 106 lần so với năm 1986. Tăng trưởng kinh tế bình quân đạt trên 6,5%/năm, thuộc nhóm các nước có mức tăng trưởng cao trong khu vực.Việt Nam trở thành công xưởng mới của châu Á, với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tích lũy đạt hơn 380 tỷ USD. Nhiều mặt hàng “made in Vietnam” trở nên quen thuộc với người tiêu dùng thế giới như: càphê, hạt tiêu, tôm, cá basa, sản phẩm từ gỗ, dệt may, da giày…

Chỉ trong vòng 2 thập kỷ sau đổi mới, Việt Nam đã đưa hàng chục triệu người thoát cảnh đói nghèo và nằm trong top 30 nền kinh tế xuất khẩu lớn nhất thế giới vào năm 2003 (với vị trí thứ 23) và dự kiến sẽ trở thành một trong 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới về quy mô GDP vào năm 2025.

Sự phát triển vượt bậc của kinh tế Việt Nam được thế giới đánh giá là “thần kỳ”, thậm chí trong một bài viết đăng tải trên tạp chí Financial Times năm 2022, nhà kinh tế học Ruchir Sharma đã gọi Việt Nam là một trong 7 "kỳ quan kinh tế". Không chỉ khiến thế giới kinh ngạc, với những dấu ấn trên “bản đồ kinh tế”, Việt Nam đang là hình mẫu, là tấm gương cho nhiều nước đang phát triển, đặc biệt là những nước mà ở vị thế khó khăn và có xuất phát điểm như Việt Nam trước đây.

1(3).png
chuyen-doi-muc-dich-su-dung-sat-trong-lua-161220a-1-.jpg
131108_205715-ttxvn-20141028-dbscl(1).jpg
114815-san-luong-lua-ca-nuoc-uoc-dat-20-2-trieu-tan.jpg
vna_potal_dong_bang_song_cuu_long_thang_loi_toan_dien_vu_dong_xuan_2020_103452705_stand.jpg
potal_hai_ca_phe_chin__nang_cao_gia_tri_chat_luong_cho_ca_phe_7112641.jpg
1920x1080-3.png
ca-phe1-121021.jpg
vna_potal_nien_vu_ca_phe_2022_-_2023_simexco_daklak_phan_dau_dat_doanh_thu_5116_ty_dong_stand.jpg

Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, vào giữa những năm 1980, Việt Nam vẫn là một trong những quốc gia có thu nhập thấp nhất thế giới, phải nhập khẩu lương thực mỗi năm để cứu đói. Từ năm 1976 đến 1980, dù sản xuất trong điều kiện đất nước không có chiến tranh, nhưng Việt Nam vẫn phải nhập 5,6 triệu tấn lương thực, thực phẩm. Trong 5 năm tiếp theo, Việt Nam tiếp tục rơi vào cảnh thiếu lương thực. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, từ năm 1981-1985, Việt Nam phải nhập trên 1 triệu tấn lương thực.

Bước ngoặt lịch sử của ngành nông nghiệp và cũng là của đất nước đến vào năm 1988 với sự ra đời của Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, thường được gọi là “Khoán 10.” Nghị quyết này đã chính thức thừa nhận hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ, giao quyền sử dụng đất lâu dài cho người dân. Đây không chỉ là một sự thay đổi về chính sách, mà là một cuộc cách mạng về tư duy.

ap-dung-khcn-va-lien-ket-san-xuat-voi-dn-nen-thu-nhap-nong-dan-luon-cao-hon-cac-ho-sx-thong-thuong-1-.jpg
Chuyển đổi tư duy "sản xuất nông nghiệp" sang "kinh tế nông nghiệp" thích ứng với biến đổi khí hậu và xu thế thị trường là tiền đề giúp nông dân An Giang hướng tới nền nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh. (Ảnh: TTXVN)

Kết quả của “Khoán 10” đến nhanh như một phép màu. Chỉ một năm sau khi Nghị quyết 10 ra đời, năm 1989, Việt Nam từ một nước phải nhập khẩu lương thực, đã lần đầu tiên xuất khẩu được 1,4 triệu tấn gạo. Con số này không chỉ là một thống kê kinh tế mà còn là một lời tuyên bố đanh thép về sự hồi sinh của một dân tộc.

Kể từ cột mốc lịch sử đó, hành trình của hạt gạo Việt Nam trên trường quốc tế là một đường đi lên đầy ấn tượng: Trong thập niên 1990, Việt Nam nhanh chóng khẳng định vị thế trong top 3 nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, bên cạnh Thái Lan và Mỹ; đến năm 2012, Việt Nam lần đầu tiên vượt qua Thái Lan, vươn lên vị trí số một thế giới về lượng gạo xuất khẩu với 7,72 triệu tấn.

gia-gao-2.jpg
Dây chuyền đóng bao gạo xuất khẩu tại tỉnh An Giang. (Ảnh: Hồng Đạt/TTXVN)

Năm 2024, ngành gạo xác lập kỷ lục xuất khẩu mới cả về sản lượng và kim ngạch, lần đầu tiên xuất khẩu vượt 9 triệu tấn, mang về gần 5,8 tỷ USD, củng cố vị thế quốc gia xuất khẩu gạo top 3 thế giới của Việt Nam. Trong 7 tháng đầu 2025, Việt Nam đã xuất khẩu 5,5 triệu tấn gạo, đạt giá trị 2,81 tỷ USD. Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) tự tin dự báo cả năm 2025 sẽ xuất khẩu khoảng 8,8 triệu tấn, giữ vị trí quốc gia lớn thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo.

Hành trình này không chỉ là sự gia tăng về số lượng mà còn là cuộc chuyển mình từ việc bán gạo cấp thấp, giá rẻ sang chinh phục các thị trường khó tính bằng những sản phẩm chất lượng cao. Gạo Việt Nam liên tục được vinh danh là “Gạo ngon nhất thế giới,” trở thành một cú hích nâng tầm thương hiệu cho cả ngành lúa gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế và mở đường cho một cuộc bứt phá toàn diện của ngành nông nghiệp. Việt Nam không “bỏ tất cả trứng vào một giỏ” mà ngày càng phát triển đa dạng các ngành hàng chủ lực, tạo thành một hệ sinh thái xuất khẩu vững chắc.

Song song với việc củng cố an ninh lương thực nội địa, sự đa dạng nông sản đã mở ra cánh cửa xuất khẩu rộng lớn, đưa Việt Nam trở thành một cường quốc nông nghiệp trên bản đồ thế giới. Tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thuỷ sản năm 2024 đạt mức cao kỷ lục 62,5 tỷ USD là minh chứng hùng hồn nhất.

nhung-vuon-cafe-triu-qua-chin-mong-dang-vao-vu-thu-hai.jpg
Kể từ khi cây cà phê được đưa về trồng trên nương rẫy đã đem đến cho đồng bào Mông ở Tỏa Tình những vụ mùa bội thu. Ảnh: TTXVN

Việt Nam hiện là cường quốc xuất khẩu càphê lớn thứ hai thế giới (chỉ sau Brazil) và đứng số một thế giới về càphê Robusta. Từ những đồn điền ở Tây Nguyên, hạt càphê Việt Nam đã có mặt tại hơn 80 quốc gia. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp Việt Nam đang ngày càng đầu tư vào chế biến sâu, tạo ra các sản phẩm càphê hòa tan, càphê rang xay chất lượng cao, từng bước xây dựng thương hiệu riêng trên bản đồ càphê thế giới. Giữ vững các thị trường truyền thống, tăng cường xuất khẩu càphê chế biến sâu là giải pháp để ngành hàng này cán mốc mục tiêu 7 tỷ USD cả năm 2025.

Nếu lúa gạo, càphê là những “cây đại thụ” thì ngành rau quả là một “ngôi sao đang lên” đầy tiềm năng với tốc độ tăng trưởng ấn tượng. Những trái thanh long, sầu riêng, vải thiều, xoài của Việt Nam không còn là sản phẩm xa lạ tại các siêu thị quốc tế. Xuất khẩu rau quả năm 2024 cũng lập mốc kỷ lục mới với 7,12 tỷ USD. Đặc biệt, trái sầu riêng đã trở thành một hiện tượng với kim ngạch xuất khẩu sang Trung Quốc đạt trên 3 tỷ USD.

ca-phe1-121021.jpg
Chùm cà phê trĩu quả của một vụ mùa bội thu. Ảnh: TTXVN

Không chỉ nông sản, Việt Nam hiện là nhà sản xuất và xuất khẩu cá tra lớn nhất thế giới và là một trong những nhà cung cấp tôm hàng đầu toàn cầu. Xuất khẩu thủy sản năm 2024 đạt 10,07 tỷ USD và đã chinh phục những thị trường khó tính nhất như EU, Mỹ, Nhật Bản.

Ngoài ra, Việt Nam còn ghi danh trên bảng xếp hạng thế giới với các sản phẩm như: gỗ, hạt điều, hạt tiêu ở các vị trí tốp đầu… Chính sự phong phú về nông sản đã giúp Việt Nam khẳng định vị thế trên bản đồ xuất khẩu nông nghiệp thế giới. Việc tiếp tục đầu tư vào công nghệ, chế biến sâu và xây dựng thương hiệu sẽ giúp Việt Nam khai thác hiệu quả hơn nữa lợi thế này, đưa ngành nông nghiệp ngày càng phát triển bền vững.

2(3).png

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, để phát triển kinh tế, Nhà nước khuyến khích nhân dân tăng gia sản xuất nông nghiệp và các sản phẩm thiết yếu dân sinh như vải mặc, đường, mực, giấy viết, diêm, xà phòng, chế biến thực phẩm… Đại diện Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết ở giai đoạn đầu, hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra trong bối cảnh đất nước bị chia cắt, vừa sản xuất vừa chiến đấu, các hoạt động xuất khẩu không diễn ra nhiều, các hoạt động ngoại thương chủ yếu là nhập khẩu.

Trong các hoạt động nhập khẩu, việc dùng ngoại tệ của Nhà nước để trao đổi, mua bán hàng hóa rất ít. Nhập khẩu thực chất là sự tiếp nhận viện trợ từ các nước bên ngoài, chủ yếu với mục đích tăng cường tiềm lực kinh tế, quốc phòng, duy trì và phát triển sản xuất, phục vụ chiến đấu, chi viện cho miền Nam. Trong vòng 20 năm, Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa đã viện trợ cho Việt Nam hơn 2,36 triệu tấn hàng hóa, trong đó khoảng một nửa là viện trợ quân sự, nửa còn lại là viện trợ kinh tế.

2_nhung-chinh-sach-dot-pha-ve-nong-nghiep-da-giai-phong-suc-san-xuat.-anh-vietnam-1-.jpg
Những chính sách đột phá về nông nghiệp đã giải phóng sức sản xuất. (Ảnh Vietnam+)

Năm 1986, đánh dấu một bước chuyển lịch sử cho tăng trưởng và phát triển kinh tế-xã hội. Chuyên gia Nguyễn Chí Hải, Nguyên Trưởng Khoa Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế-Luật, Đại học Quốc gia, Thành phố Hồ Chí Minh cho biết Việt Nam đã trải qua những năm đầu đổi mới với những khó khăn lớn của hoạt động xuất nhập khẩu khi phải nhập khẩu rất nhiều mặt hàng, kể cả gạo. Song, ngay những ngày tháng khó khăn đó, Đại hội lần thứ VI của Đảng (năm 1986) xác định, xuất khẩu hàng hóa là 1 trong 3 mặt trận của nền kinh tế thời kỳ đổi mới (bên cạnh sản xuất lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng).

kinh-te-2.png

Nhờ những quyết sách mạnh mẽ và đúng đắn, tăng trưởng xuất khẩu hằng năm của Việt Nam luôn đạt tốc độ cao, ở mức 2 con số, thậm chí có những năm lên đến trên 15%. Nếu năm 1991, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam mới chỉ đạt 2,087 tỷ USD, thì đến năm 2024, tổng kim ngạch xuất khẩu đã đạt 405,53 tỷ USD, tăng gấp 194,3 lần. Việt Nam đã có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao trong suốt hơn 3 thập kỷ, ngay cả thời gian đại dịch COVID-19 (2019-2021). Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu tính trong cả thời kỳ từ năm 1992 đến 2022 (31 năm) đạt trung bình 17,96%/năm. Việt Nam trở thành quốc gia có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao hàng đầu thế giới hơn 30 năm qua.

Hiện hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã có mặt tại gần 200 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới, trong đó có các thị trường lớn và khó tính như Mỹ, Nhật Bản và EU. Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu tiếp tục cải thiện theo chiều hướng tích cực. Tỷ trọng hàng công nghiệp chế biến tăng từ 80,3% kim ngạch xuất khẩu năm 2016 lên mức 85,1% năm 2019 và 88% trong năm 2024. Trong khi đó, tỷ trọng nhóm hàng nhiên liệu, khoáng sản giảm từ 2% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2016 xuống còn 1% năm 2024. Số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD tăng dần, từ 28 mặt hàng năm 2016 lên 37 mặt hàng năm 2024 (trong đó có 8 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD).

Việt Nam cũng đạt được nhiều bước tiến vượt bậc trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Việc ký kết và thực thi nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA), đặc biệt các FTA thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, RCEP… gắn kết Việt Nam với trên 60 nền kinh tế lớn không chỉ mở rộng thị trường xuất khẩu mà còn giúp cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm và chuẩn hóa quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn quốc tế.

14_hinh-thanh-cac-tap-doan-kinh-te-co-cong-nghe-hien-dai-tro-thanh-dong-luc-quan-trong-cua-nen-kinh-te.-anh-vietnam-.jpg
Hình thành các tập đoàn kinh tế có công nghệ hiện đại, trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế. (Ảnh Vietnam+)

Việt Nam thực sự đang trở thành công xưởng mới của thế giới, là mắt xích quan trọng và là địa điểm chiến lược trong chuỗi cung ứng toàn cầu tại Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Ông Tạ Hoàng Linh, Vụ trưởng Vụ Thị trường châu Âu-châu Mỹ, Bộ Công Thương

Sau đại dịch và những bất ổn địa chính trị-kinh tế, nhiều tập đoàn, nhiều kênh phân phối bán lẻ, bán buôn đang đẩy mạnh chiến lược đa dạng hóa, đảm bảo nguồn cung bền vững đã lựa chọn Việt Nam là địa điểm chiến lược trong chuỗi cung ứng toàn cầu của họ.

Việt Nam đang là điểm đến dành cho các nhà thu mua có nhu cầu đa dạng hoá nguồn cung, hình thành chuỗi cung ứng có khả năng chống chịu tốt trước những biến động của thị trường, tìm kiếm các đơn vị có khả năng chuyển đổi, thích ứng nhanh chóng với xu hướng sản xuất và tiêu dùng bền vững.

3(3).png

Tiến sỹ Nguyễn Thị Hương, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) nhận định những quyết sách mang tính cách mạng của công cuộc Đổi mới đã mở đường cho một giai đoạn phát triển huy hoàng. Đặc biệt, Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 ra đời đã “mở toang” cánh cửa thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), theo phương châm đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ kinh tế đối ngoại.

8_ty-trong-nong-nghiep-trong-gdp-da-giam-sau-tu-36-76-1986-xuong-chi-con-11-86-2024-.-anh-vietnam-.jpg

Chỉ ra quy mô GDP năm 1990 gấp 73 lần năm 1986. Trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản gấp 74 lần, khu vực công nghiệp và xây dựng gấp 53 lần, khu vực dịch vụ gấp hơn 88 lần. Theo đó, tăng trưởng GDP bình quân mỗi năm đạt gần 5%.

Tiến sỹ Nguyễn Thị Hương

Tổng quan từ đó đến nay, “cú hích” từ công cuộc Đổi mới đã giải phóng sức sản xuất, khơi thông các nguồn lực, tạo ra một giai đoạn tăng trưởng liên tục và ấn tượng. Tiến sỹ Nguyễn Thị Hương nhấn mạnh những con số thống kê là minh chứng rõ nét nhất cho kỳ tích này. Quy mô kinh tế của Việt Nam đã tăng trưởng gần 106 lần, từ 4,5 tỷ USD vào năm 1986 lên 476,3 tỷ USD ở năm 2024. Theo đó, GDP bình quân đầu người tăng từ 74 USD lên 4.700 USD, gấp hơn 63 lần. Việt Nam cũng đã chính thức ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 1987-2024 của Việt Nam đạt khoảng 6,67%/năm, thuộc nhóm cao nhất khu vực và thế giới đồng thời đưa Việt Nam trở thành quốc gia dẫn đầu tăng trưởng trong nhóm ASEAN-6.

06-cu-hich.png
“Cú hích” từ công cuộc Đổi mới đã giải phóng sức sản xuất, khơi thông các nguồn lực, tạo ra một giai đoạn tăng trưởng liên tục và ấn tượng. (Ảnh: Vietnam+)

Quá trình này đi kèm với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Báo cáo từ Tổng cục Thống kê cho thấy, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP đã giảm sâu từ 36,76% (1986) xuống chỉ còn 11,86% (2024). Ngược lại, khu vực công nghiệp-xây dựng và dịch vụ đã vươn lên trở thành hai trụ cột chính, chiếm lần lượt 37,64% và 42,36%. Đặc biệt, từ chỗ bị bao vây cấm vận, Việt Nam nay đã hội nhập sâu rộng, trở thành một trong những nền kinh tế có độ mở lớn nhất thế giới. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2024 ước đạt 786,29 tỷ USD, gấp 267 lần so với năm 1986. Những con số này không chỉ phản ánh sự tăng trưởng về lượng mà còn cho thấy sự cải thiện về chất, với đóng góp của năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng ngày càng tăng, đạt trên 43% trong giai đoạn 2021-2024.

tang-truong(1).png
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2024 ước đạt 786,29 tỷ USD,
gấp 267 lần so với năm 1986. (Ảnh: Vietnam+)

Chặng đường gần 40 năm Đổi mới đã chứng kiến sự trỗi dậy ngoạn mục của kinh tế Việt Nam. Từ một nền kinh tế lạc hậu, bị tàn phá bởi chiến tranh, Việt Nam đã vươn mình trở thành một điểm sáng tăng trưởng của thế giới. Những thành tựu kinh tế đã góp phần tạo tiền đề, nền tảng để đất nước bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

5_-co-hoi-la-thu-hut-dau-tu-chien-luoc-vao-cac-linh-vuc-cong-nghe-cao.-anh-vietnam-1-.jpg
Cơ hội là thu hút đầu tư chiến lược vào các lĩnh vực công nghệ cao. (Ảnh: Vietnam+)

Đích đến của kỷ nguyên vươn mình là dân giàu, nước mạnh, xã hội xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc năm châu. Ưu tiên hàng đầu trong kỷ nguyên mới là thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao.

Tuy nhiên, kỳ tích của quá khứ không phải là “tấm vé” đảm bảo cho thành công trong tương lai. Hành trình đến năm 2045 với khát vọng trở thành một quốc gia phát triển, thu nhập cao đòi hỏi một cuộc “Đổi mới lần thứ hai” trong tư duy và hành động với trọng tâm là đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát huy nội lực dân tộc.

Theo đó, quá trình tinh giản bộ máy hành chính, thúc đẩy chuyển đổi số hiện nay đang được xem là cuộc “Đổi mới lần hai” để mở ra những vận hội mới cho đất nước. Dù sẽ đối mặt nhiều khó khăn, đặc biệt là về yếu tố con người, nhưng với quyết tâm và nỗ lực cao của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và người dân sẽ đưa đất nước bước sang một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh, thịnh vượng của dân tộc./.

Nội dung: Hồng Kiều-Xuân Quảng-Hạnh Nguyễn

Thiết kế và trình bày: Hào Nguyễn


(0) Bình luận
© Bản quyền thuộc về VietnamPlus, TTXVN.
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO
Việt Nam - Câu chuyện kỳ tích kinh tế khiến thế giới kinh ngạc