80 năm giáo dục Việt Nam: Từ bình dân học vụ đến bình dân học vụ số
Phạm Mai•29/08/2025 09:46
“Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, “vì sự nghiệp 10 năm thì phải trồng cây, vì sự nghiệp trăm năm thì phải trồng người,” tư tưởng đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là sợi chỉ đỏ xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta trong suốt 80 năm qua, kể từ ngày khai sinh lập quốc.
Với quan điểm “giáo dục là quốc sách hàng đầu,” “giáo dục phải đi trước một bước”, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho tương lai, trong bất cứ giai đoạn lịch sử nào, giáo dục luôn được coi là nhiệm vụ trọng tâm, tiên phong, từ phong trào bình dân học vụ để diệt giặc dốt trong những ngày đầu tiên giành lại độc lập đến phong trào bình dân học vụ số, xóa mù công nghệ số đang được triển khai rộng khắp cả nước hiện nay.
Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Bác Hồ đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra trang sử hào hùng mới của dân tộc. Ngay hôm sau, ngày 3/9/1945, trong phiên họp đầu tiên, Chính phủ đã thảo luận và tán thành 6 vấn đề cấp bách nhất do Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra, trong đó nhiệm vụ thứ hai là “mở chiến dịch chống nạn mù chữ.”
Người xác định vận mệnh dân tộc đang ở thế “ngàn cân treo sợi tóc”, trong đó ba thách thức lớn nhất là “giặc đói”, “giặc dốt” và giặc ngoại xâm. Chính sách ngu dân để dễ bề cai trị của thực dân Pháp đã khiến 95% người dân Việt Nam mù chữ, tỷ lệ này ở phụ nữ thậm chí lên đến 99%, ở khu vực khó khăn, tỷ lệ này thậm chí lên đến 100%.
Người dân chong đèn học chữ trong những ngày đầu đất nước giành độc lập. (Ảnh: TTXVN)
Sau đó chưa đầy một tuần, ngày 8/9/1945, có đến 5 sắc lệnh về giáo dục đã được ban hành cùng lúc, trong đó sắc lệnh số 17/SL thành lập Nha Bình dân học vụ, quy định mọi người phải ra sức diệt giặc dốt, đặt nhiệm vụ thanh toán nạn mù chữ lên hàng đầu. Cùng với các sắc lệnh, ngày 14/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn dân “chống nạn thất học”, “người biết chữ hãy dạy cho người chưa biết chữ, hãy góp sức vào bình dân học vụ, người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học…”
Các lớp học xóa mù chữ được mở khắp nơi, từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền ngược, từ đình làng, sân chùa, quán chợ đến bến thuyền, trên cánh đồng, dưới gốc cây… Bảng là ván gỗ, nền đất, sàn gạch, tàu chuối, lưng trâu… Phấn từ gạch non, than củi, vôi trắng… Bút từ cây tre, cây nứa, mực từ quả mùng tơi…
Giờ thể dục của các học sinh lớp học vùng cao Điện Biên những năm 1960 (Ảnh: NVCC)
Chỉ trong vòng một năm đã có hơn 95.000 người xung phong làm giáo viên, hơn 75.800 lớp học được mở, có 2,5 triệu cuốn sách được in, hơn 3 triệu người dân biết chữ.
Tháng 12/1946, Bác Hồ ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, cả dân tộc bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp đầy gian khổ nhưng phong trào bình dân học vụ vẫn tiếp tục duy trì nhằm nâng cao dân trí dù gặp muôn vàn khó khăn do sự đàn áp của kẻ thù.
Lớp học giữa rừng Điện Biên những năm 1960. (Ảnh: NVCC)
Ngay khi đất nước vẫn còn đang chìm trong khói lửa chiến tranh, vấn đề đào tạo nhân lực để phát triển, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc đã được Đảng và Bác Hồ đặc biệt quan tâm.
Cuộc cải cách giáo dục đầu tiên được thực hiện năm 1950, chuyển hệ thống giáo dục từ 12 năm (chế độ thuộc địa) sang hệ thống giáo dục 9 năm để đáp ứng yêu cầu đào tạo nhân lực trong bối cảnh chiến tranh.
“Nếu không chịu khó học thì không tiến bộ được. Không tiến bộ là thoái bộ”; “Muốn biết thì phải thi đua học. Học không bao giờ cùng. Học mãi để tiến bộ mãi. Càng tiến bộ, càng thấy càng phải học thêm” Chủ tịch Hồ Chí Minh.“Nếu không chịu khó học thì không tiến bộ được. Không tiến bộ là thoái bộ”; “Muốn biết thì phải thi đua học. Học không bao giờ cùng. Học mãi để tiến bộ mãi. Càng tiến bộ, càng thấy càng phải học thêm” Chủ tịch Hồ Chí Minh.“Nếu không chịu khó học thì không tiến bộ được. Không tiến bộ là thoái bộ”; “Muốn biết thì phải thi đua học. Học không bao giờ cùng. Học mãi để tiến bộ mãi. Càng tiến bộ, càng thấy càng phải học thêm” Chủ tịch Hồ Chí Minh.“Nếu không chịu khó học thì không tiến bộ được. Không tiến bộ là thoái bộ”; “Muốn biết thì phải thi đua học. Học không bao giờ cùng. Học mãi để tiến bộ mãi. Càng tiến bộ, càng thấy càng phải học thêm” Chủ tịch Hồ Chí Minh.“Nếu không chịu khó học thì không tiến bộ được. Không tiến bộ là thoái bộ”; “Muốn biết thì phải thi đua học. Học không bao giờ cùng. Học mãi để tiến bộ mãi. Càng tiến bộ, càng thấy càng phải học thêm” Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Năm 1954, sau khi miền Bắc được giải phóng, với quyết tâm đưa miền núi tiến lên cùng với miền xuôi xây dựng Chủ nghĩa Xã hội ở miền Bắc, làm cơ sở vững chắc cho đấu tranh thống nhất nước nhà, Bác Hồ đã ra lời kêu gọi giáo viên miền xuôi xung phong lên miền núi dạy học, đem ánh sáng của Đảng phát triển kinh tế, văn hóa vùng cao.
Là một trong 860 giáo viên tình nguyện đầu tiên đến với vùng cao năm 1959, thầy Nguyễn Minh Tranh cho hay giáo dục ở hầu hết các xã vùng cao khi đó đều là những con số 0 tròn trĩnh: Không trường, không lớp, không giáo viên, không bảng đen, phấn trắng, nên nhiệm vụ đầu tiên của các giáo viên tình nguyện là dựng trường, mở lớp. Từ những lớp học i tờ của hàng nghìn giáo viên miền xuôi trên khắp các bản làng vùng cao đã không chỉ xóa mù chữ mà còn đào tạo nguồn cán bộ chất lượng cho đất nước, đặc biệt là cho các tỉnh miền núi phía Bắc.
Thầy Nguyễn Minh Tranh chia sẻ về những ngày băng rừng chặt tre, dựng lớp, mở trường để xóa mù chữ cho đồng bào vùng cao Tây Bắc. (Ảnh: Phạm Mai/Vietnam+)
“
Giáo dục ở hầu hết các xã vùng cao khi đó đều là những con số 0 tròn trĩnh: Không trường, không lớp, không giáo viên, không bảng đen, phấn trắng, nên nhiệm vụ đầu tiên của các giáo viên tình nguyện là dựng trường, mở lớp
Thầy Nguyễn Minh Tranh
Cũng với tầm nhìn chiến lược về đào tạo cán bộ, năm 1954, ngay sau khi hiệp định Geneva được ký kết, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Chính phủ chủ trương đưa học sinh là con em cán bộ, chiến sỹ, đồng bào miền Nam ra miền Bắc học tập để xây dựng lực lượng cán bộ kế cận cho cách mạng. Khoảng 32.000 học sinh miền Nam đã được tập kết ra Bắc, hình thành nên hệ thống “vườn ươm” đặc biệt - hệ thống 28 trường học sinh miền Nam trên đất Bắc.
“Tầm nhìn chiến lược của Bác Hồ và Trung ương khi đó là hết sức sáng suốt. Bác đã xác định được rằng cách mạng miền Nam còn kéo dài, cần phải đưa con em cán bộ, chiến sỹ ra Bắc để chăm sóc, đào tạo, sau này trở thành lực lượng nòng cốt xây dựng miền Nam, tái thiết đất nước,” Tiến sỹ Mai Liêm Trực, nguyên Thứ trưởng thường trực Bộ Bưu chính Viễn thông (nay là Bộ Thông tin và Truyền thông), nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện, một trong số 32.000 học sinh miền Nam trên đất Bắc chia sẻ.
Bên cạnh việc đưa con em cán bộ miền Nam ra Bắc đào tạo, từ đầu những năm 1960, để đáp ứng nhu cầu phát triển giáo dục cho học sinh và đồng bào miền Nam, chuẩn bị lực lượng trí thức xây dựng và phát triển đất nước sau giải phóng đồng thời đấu tranh với địch trên mặt trận văn hóa giáo dục, Đảng và Bác Hồ đã cử nhiều đoàn giáo viên tình nguyện vào Nam dựng trường, mở lớp. Trên tuyến đường Hồ Chí Minh huyền thoại không chỉ in dấu chân của những anh bộ đội từ miền Bắc chi viện cho tiền tuyến mà còn có cả dấu chân của gần 3.000 nhà giáo. Họ đã tình nguyện gác lại gia đình, sự nghiệp, mang sách vở, bút nghiên xẻ dọc Trường Sơn, mang tri thức đến với học trò miền Nam đang chìm trong khói lửa.
Bác Hồ - điểm tựa tinh thần vững chắc của đồng bào miền Nam giai đoạn 1954-1975 - trong một lần gặp gỡ học sinh miền Nam thuộc trường 8 (trường nữ sinh) và trường 14 (trường nam sinh) tại Hải Phòng. Bức ảnh do cô hiệu phó trường 8 giao bà Lịch giữ cẩn thận.(Ảnh tư liệu)
Ngày nhà giáo Đỗ Trọng Văn lên đường đi B, con nhỏ mới tròn 8 tháng, con lớn chập chững lên ba. “Nhớ và thương rất rất nhiều, nhưng chúng tôi lúc đó đều hiểu khi Tổ quốc cần, mỗi người đều phải gác lại hạnh phúc riêng,” thầy Văn xúc động nói. Và với sự hy sinh thầm lặng ấy, những mái trường đã mọc lên khắp miền Nam, dưới tán dừa, trong hầm trú ẩn hay giữa rừng sâu, bất chấp bom đạn kẻ thù.
Không chỉ phát triển hệ thống giáo dục trong nước, công tác đào tạo cán bộ chất lượng cao cũng được Đảng, Bác Hồ đặc biệt quan tâm.
Hàng nghìn thanh niên Hà Nội xung phong về các vùng nông thôn để dạy chữ. Ảnh: TTXVN
Năm 1951, từ khu đầu não kháng chiến Tân Trào, dưới tán rừng già, Bác Hồ đã ân cần dặn dò 21 cán bộ, học sinh đầu tiên chuẩn bị được cử sang Liên Xô học tập và sau đó, năm 1960, Chính phủ ra Thông tư số 95-TTg về việc chọn học sinh gửi đi học chuyên môn ở các nước anh em định kỳ.
Hàng nghìn cán bộ, học sinh được cử ra nước ngoài học tập đã trở thành những nhà khoa học đầu ngành, bệ đỡ cho sự phát triển đất nước sau này. Những cái tên đã trở thành tượng đài khoa học Việt Nam, không chỉ là những nhà khoa học đầu ngành ở trong nước mà còn vươn tầm quốc tế như Giáo sư Hoàng Tuỵ, Giáo sư Nguyễn Văn Hiệu, Giáo sư Võ Tòng Xuân…
Theo Giáo sư Trần Xuân Nhĩ, nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, trải qua 80 năm hình thành và phát triển cùng đất nước, ngành giáo dục đã có đóng góp to lớn trong việc nâng cao dân trí và xây dựng đội ngũ cán bộ cho đất nước.
Giáo dục Việt Nam đã không ngừng phát triển với 4 lần cải cách và rất nhiều đổi mới để thích ứng với nhiệm vụ trong từng giai đoạn lịch sử của dân tộc đồng thời vươn mình hội nhập quốc tế sâu rộng.
Giáo sư Trần Xuân Nhĩ nhận định thành công nhất của giáo dục là sự phát triển về số lượng, hệ thống cơ sở giáo dục rộng khắp để ai có nhu cầu cũng được đi học. Nếu trước đây, cả huyện chỉ có một trường tiểu học thì hiện nay, mang lưới trường lớp từ mầm non đển trung học phổ thông đã phủ khắp các bản làng.
Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, toàn quốc hiện có 15.209 trường mầm non (trong đó có 12.059 trường công lập và 3.150 trường ngoài công lập) và 18.559 cơ sở giáo dục mầm non độc lập tư thục, dân lập. Số cơ sở giáo dục phổ thông là trên 26.400 trường, gồm 11.559 trường tiểu học; 8.403 trường trung học cơ sở; 2.109 trường trung học phổ thông; 2.582 trường phổ thông có nhiều cấp học; 78 trường trung học phổ thông chuyên…
Hệ thống trường phổ thông dân tộc bán trú, nội trú trải rộng, đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa, điều kiện đi lại khó khăn với 931 trường phổ thông dân tộc bán trú cấp tiểu học và trung học cơ sở, 186 trường trung học phổ thông dân tộc nội trú cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông; 93 trường phổ thông dân tộc nội trú liên cấp; 282 trường phổ thông dân tộc bán trú liên cấp; 5 trường dự bị đại học…
Các đối tượng học sinh đặc biệt được quan tâm với 51 cơ sở giáo dục chuyên biệt công lập đối với người khuyết tật và 19 trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập công lập.
Toàn quốc hiện có trên 18,6 triệu học sinh, trong đó cấp tiểu học có gần 8,9 triệu em, trung học cơ sở trên 6,6 triệu em và trung học phổ thông trên 3,1 triệu em.
Ở bậc đại học, nếu trước đây cả nước chỉ có một trường cao đẳng Đông Dương thì hiện nay đã có hơn 230 trường đại học, hàng trăm trường cao đẳng cùng mạng lưới hàng nghìn trường nghề.
Nghị quyết 29 năm 2013 của Trung ương Đảng về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục với chương trình giáo dục phổ thông mới đã là một cải cách mạnh mẽ về giáo dục khi chuyển từ dạy truyền thụ kiến thức sang hình thành phẩm chất, năng lực người học, để tạo nên những công dân Việt Nam mới có đầy đủ kiến thức và kỹ năng.
Không chỉ phát triển về số lượng, chất lượng giáo dục cũng ngày càng được nâng lên. Ở giáo dục phổ thông, trong giáo dục mũi nhọn, các đội tuyển Olympic quốc tế của Việt Nam luôn nằm trong tốp đầu thế giới. Mới đây nhất, đội tuyển Olympic Toán Việt Nam xếp thứ 9 trong số 113 quốc gia và vùng lãnh thổ tham dự Kỳ thi Olympic Toán Quốc tế với 2 huy chương Vàng, 3 huy chương Bạc, 1 huy chương Đồng; đội tuyển Olympic Hóa học đạt kỳ tích chưa từng có khi lần đầu tiên trong lịch sử giành 4 huy chương Vàng trong một kỳ thi Olympic Hoá học quốc tế được tổ chức trực tiếp. Giáo dục đại trà cũng khẳng định chất lượng với điểm đánh giá PISA năm 2022 xếp thứ 34 trên tổng số 81 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia đánh giá.
Đội tuyển Việt Nam đã xuất sắc giành 4 Huy chương vàng, trong đó có 2 huy chương vàng nằm trong top 10. (Ảnh: Thanh Tùng/TTXVN)Niềm vui của chàng trai Vàng Olympic Toán học quốc tế Võ Trọng Khải. (Ảnh: TTXVN phát)Nguyễn Ngô Đức, học sinh lớp 12A4, Trường THPT Chuyên Phan Bội Châu (Nghệ An) đã đoạt Huy chương Vàng kỳ thi Olympic Hóa học quốc tế Mendeleev (IMChO) năm 2025 tổ chức tại Brazil. Kỳ thi Olympic Hóa học này được đánh giá là "khó nhất thế giới". Ảnh: Bích Huệ - TTXVN4 học sinh dự thi Olympic Sinh học quốc tế 2025 đều giành huy chương. Ảnh: TTXVN
Ở giáo dục đại học, từ năm 2018, Việt Nam đã có hai đại học đầu tiên lọt tốp 1.000 đại học tốt nhất thế giới là Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh. Từ năm 2018 đến nay, danh sách này ngày càng dài hơn mỗi năm, thậm chí một số lĩnh vực có trường lọt tốp 500 trường đại học tốt nhất thế giới. Các trường đại học Việt Nam đã khẳng định chất lượng đào tạo khi thu hút hàng nghìn du học sinh quốc tế đến học tập và trao đổi mỗi năm, liên kết đào tạo với nhiều trường trên thế giới. Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, hiện có khoảng 22.000 lưu học sinh nước ngoài đang học tập tại các cơ sở giáo dục của Việt Nam (chưa kể các lưu học sinh vào học tập, nghiên cứu và bồi dưỡng ngắn hạn). Ngoài gần 4.000 lưu học sinh diện Hiệp định, phần lớn lưu học sinh sang Việt Nam học tập bằng nhiều kênh khác nhau như tự túc, theo các thỏa thuận song phương cấp trường hay địa phương.
Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu. Ảnh: Thống Nhất/TTXVN
“Đặc biệt, năm 2025, Tổng Bí thư Tô Lâm đã yêu cầu ngành giáo dục triển khai dạy học 2 buổi/ngày ở bậc tiểu học và trung học cơ sở, miễn học phí cho học sinh từ mầm non đến trung học phổ thông, xây dựng nghị quyết mang tính đột phá để tháo gỡ các điểm nghẽn trong giáo dục. Đây đều là những điều mà ngành giáo dục mơ ước từ lâu. Với những quyết sách sáng suốt và sự chỉ đạo quyết liệt của Tổng Bí thư, chắc chắn giáo dục Việt Nam sẽ phát triển sang một giai đoạn mới rực rỡ hơn, đất nước sẽ có nguồn nhân lực chất lượng hơn nữa khi bước vào kỷ nguyên mới,” Giáo sư Trần Xuân Nhĩ nói.
Trong bối cảnh cuộc cách mạng chuyển đổi số đang ngày càng phát triển với tốc độ thay đổi nhanh chóng, bên cạnh giáo dục kiến thức nền tảng trong các nhà trường, lần đầu tiên tại Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị, khoa học, công nghệ cùng với đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số được đặt lên vị trí "là đột phá quan trọng hàng đầu" với những mục tiêu quan trọng, cụ thể cùng các giải pháp quyết liệt chưa từng có.
Nghị quyết 57 mạnh dạn đặt mục tiêu rất cao và cụ thể: đến năm 2030, Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á, nhóm 50 nước đứng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh số; năm 2045, Việt Nam thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, có thể trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao.
Nghị quyết 57 xác định tăng đầu tư cho khoa học lên 2%GDP, bố trí ít nhất 3% tổng chi ngân sách hàng năm cho phát triển khoa học công nghệ trong bối cảnh nhiều năm qua, ngân sách chi cho khoa học và công nghệ là dưới 1%.
Ngày hội Khoa học-Công nghệ-Kỹ thuật-Nghệ thuật- Toán học, khơi nguồn sáng tạo, lan tỏa đam mê khoa học tới học sinh thủ đô. (Ảnh: Thanh Tùng/TTXVN)Trường Tiểu học Đồng Tháp (huyện Đan Phượng, Hà Nội) được đầu tư xây dựng đạt chuẩn quốc gia mức độ 2. Ảnh minh họa: Thanh Tùng/TTXVNNgành học Sư phạm đang từng ngày chắp cánh cho ước mơ đứng trên bục giảng, trở thành nhà giáo tốt trong tương lai của sinh viên. Ảnh: Thanh Tùng - TTXVNNgành học Sư phạm đang từng ngày chắp cánh cho ước mơ đứng trên bục giảng, trở thành nhà giáo tốt trong tương lai của sinh viên. Ảnh: Thanh Tùng - TTXVNNgành học Sư phạm đang từng ngày chắp cánh cho ước mơ đứng trên bục giảng, trở thành nhà giáo tốt trong tương lai của sinh viên. Ảnh: Thanh Tùng - TTXVNGiảng viên, sinh viên nghiên cứu khoa học tại Đại học Quốc gia Hà Nội. (Ảnh: NTCC)Giảng viên, sinh viên nghiên cứu khoa học tại Đại học Quốc gia Hà Nội. (Ảnh: NTCC)Học sinh và giáo viên Hà Nội học về công nghệ số. (Ảnh: TTXVN)
Cùng với việc tăng nguồn lực đầu tư là đột phá về tư duy trong quản lý đầu tư ngân sách cho nghiên cứu khoa học, công nghệ: được phê duyệt trong dự toán năm trước; thực hiện cơ chế quỹ; chấp nhận rủi ro, đầu tư mạo hiểm và độ trễ trong nghiên cứu để khuyến khích các nhà khoa học mạnh dạn khai phá, thử nghiệm các ý tưởng mới. Đặc biệt, nghị quyết do Tổng Bí thư Tô Lâm trực tiếp làm trưởng ban chỉ đạo thực hiện.
Nghị quyết xác định “nhà khoa học là nhân tố then chốt” và đưa ra hàng loạt giải pháp để thu hút, trọng dụng, giữa chân các nhà khoa học đầu ngành, các chuyên gia, các tổng công trình sư trong và ngoài nước.
Nghị quyết 57 được ví như “chìa khóa vàng”, “chính sách khoán 10” trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đã ngay lập tức thổi luồng sinh khí mạnh mẽ thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ ở mọi địa hạt. Các trường đại học, viện nghiên cứu cả công và tư nhanh chóng xây dựng kế hoạch phát triển nghiên cứu khoa học với các mục tiêu cụ thể và hàng loạt chính sách ưu đãi đặc biệt thu hút nhân tài. Đại học Quốc gia Hà Nội đặt mục tiêu lọt tốp 500 đại học tốt nhất thế giới, thưởng tiền tỷ cho công trình khoa học xuất sắc, tuyển 300 nhà khoa học với nhiều chế độ đãi ngộ. Trường Đại học VinUni hướng tới lọt tốp 100 đại học tinh hoa, tuyển hơn 500 nhà khoa học…
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn. (Ảnh: Dương Giang/TTXVN)
Các chính sách xây dựng đội ngũ nhân lực kế cận chất lượng cao cũng được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Hàng loạt chính sách mới ưu đãi cho sinh viên, học viên các ngành khoa học cơ bản, ngành vi mạch bán dẫn đang chuẩn bị được ban hành. Theo dự thảo Nghị định quy định chính sách học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược, Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất các mức hỗ trợ 7 triệu đồng/tháng cho nghiên cứu sinh, 5 triệu đồng/tháng cho học viên cao học và từ 2,8 đến 4 triệu đồng/tháng cho sinh viên đại học.
Cùng với các giải pháp đột phá để phát triển nghiên cứu khoa học công nghệ, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, việc nâng cao trình độ khoa học công nghệ toàn dân cũng được Đảng và Nhà nước xác định là một quy luật sống trong thời đại kỷ nguyên số.
Trong bài viết về “Học tập suốt đời” ngày 2/3/2025, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định cách mạng 4.0 đang diễn ra với quy mô và tốc độ chưa từng có, học tập suốt đời không chỉ giúp mỗi cá nhân nhận biết, thích nghi, không tụt hậu trước sự biến đổi từng ngày của thế giới hiện tại mà đây là chìa khoá quan trọng để nâng cao dân trí và đào tạo nhân lực, thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội, là con đường duy nhất, hướng đi tất yếu của mọi quốc gia để đảm bảo sự phát triển thịnh vượng, bền vững.
Người dân Cà Mau học sử dụng thiết bị công nghệ trong phong trào Bình dân học vụ số. (Ảnh: TTXVN)
Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh một trong những nhiệm vụ cần làm ngay là phát động thực hiện phong trào “bình dân học vụ số”.
Thực hiện chỉ đạo này, ngày 26/3, Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã tổ chức lễ phát động phong trào và ra mắt nền tảng “Bình dân học vụ số”.
“
Phong trào "Bình dân học vụ số" được truyền cảm hứng và kế thừa, phát huy từ phong trào "Bình dân học vụ" do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động – một biểu tượng của lòng quyết tâm, ý chí, tinh thần đoàn kết giúp người dân thoát khỏi bóng tối mù chữ, tiếp cận tri thức và đưa dân tộc Việt Nam phát triển để có cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín như ngày nay.
Thủ tướng Phạm Minh Chính
Trong bối cảnh hiện nay, chuyển đổi số là yêu cầu khách quan, lựa chọn chiến lược, ưu tiên hàng đầu, không thể không nói đến quốc gia số, xã hội số, công dân số toàn diện, toàn trình và như vậy không thể không có phong trào “Bình dân học vụ số.”
Theo đó, Thủ tướng nhấn mạnh đây không chỉ là một sáng kiến giáo dục mà còn là cầu nối giữa quá khứ và tương lai, phát huy bài học lịch sử, phấn đấu xây dựng một xã hội không chỉ giàu tri thức mà còn giàu sức mạnh công nghệ, sẵn sàng hội nhập, phát triển.
"Đất nước đang đứng trước cơ hội lịch sử để bước vào kỷ nguyên mới, phát triển mạnh mẽ với động lực chính đến từ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Chúng ta phải thực hiện một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng và cấp bách, đó là, phổ cập tri thức, công nghệ về chuyển đổi số, kỹ năng số cho toàn dân, tức là ‘xóa mù’ về chuyển đổi số", Thủ tướng nêu rõ.
Theo đó, bên cạnh các quyết sách từ Chính phủ, Thủ tướng kêu gọi mọi người dân chủ động học hỏi, sẵn sàng chia sẻ, ứng dụng tri thức số, cùng xây dựng một xã hội tiến bộ trong kỷ nguyên mới. Phong trào "Bình dân học vụ số" phải trở thành một phong trào cách mạng, toàn dân, toàn diện, sâu rộng, không ai bị bỏ lại phía sau với tinh thần “đi từng ngõ, đến từng nhà, hướng dẫn từng người” và phương châm “triển khai nhanh chóng - kết nối rộng khắp - ứng dụng thông minh.”
Với sự chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm và phát động của Thủ tướng Chính phủ, phong trào bình dân học vụ số đang phát triển sâu rộng trên cả nước với sự vào cuộc mạnh mẽ của tất cả các địa phương, các bộ, ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức, doanh nghiệp và từng cá nhân, đánh dấu bước ngoặt trong việc việc phổ cập tri thức và kỹ năng số toàn dân và là nền tảng để cả nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên số, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.
Bình luận của bạn đã được gửi và sẽ hiển thị sau khi được duyệt bởi ban biên tập.
Ban biên tập giữ quyền biên tập nội dung bình luận để phù hợp với qui định nội dung của Báo.