
Chia sẻ với phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus, Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Nguyễn Quốc Toản, nhấn mạnh Nghị quyết số 20-NQ/TW được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ký ban hành trong một thời điểm rất đặc biệt - khi đất nước vừa tổ chức lại không gian phát triển với việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, từ 63 tỉnh, thành phố xuống còn 34 tỉnh, thành phố, trong đó có 21 địa phương giáp biển.
Theo ông Toản, Nghị quyết số 20-NQ/TW là cơ sở định hình những căn cứ pháp lý quan trọng, để tiếp tục hoàn thiện thể chế, nhằm đáp ứng yêu cầu mở rộng không gian phát triển quốc gia, đổi mới quản trị biển hiện đại và phát huy vai trò chiến lược của biển trong phát triển kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế. “Với sự đồng lòng từ Trung ương đến địa phương, Việt Nam hoàn toàn có thể khơi thông mọi nguồn lực, từng bước hiện thực hóa khát vọng trở thành một quốc gia biển giàu mạnh, an toàn và phát triển thịnh vượng,” ông Toản nói.





Nhìn vào thực tiễn, theo Tiến sỹ Dư Văn Toán (Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển), sau sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, các địa phương ven biển đã mở ra một không gian phát triển biển lớn hơn, liên kết hơn. Đây chính là điều kiện để chuyển từ khai thác riêng lẻ từng vùng biển sang quy hoạch, quản trị và phát triển không gian biển theo hướng tổng hợp, liên ngành, liên vùng và dài hạn.
Trong không gian mới ấy, với những vùng biển có tiềm năng gió có thể được đặt trong cùng bài toán với cảng nước sâu, khu công nghiệp, cơ sở sản xuất thiết bị, trung tâm logistics, hệ thống truyền tải điện và nguồn nhân lực.
Điện gió ngoài khơi vì thế không còn chỉ là câu chuyện “lắp turbine để phát điện,” mà có thể trở thành điểm khởi đầu cho một ngành công nghiệp biển mới.

Từ thực tiễn các quốc gia phát triển, ông Toán cho rằng điện gió ngoài khơi có thể kéo theo chuỗi giá trị từ cơ khí chế tạo, đóng tàu, xây dựng công trình biển, logistics, sản xuất thiết bị, dịch vụ vận hành, bảo trì đến dự báo khí tượng, hải văn và quan trắc môi trường. Xa hơn, nguồn điện tái tạo quy mô lớn còn có thể tạo điều kiện phát triển hydrogen xanh, amoniac xanh và những ngành công nghiệp phát thải thấp.
Tuy vậy, ông Toán cũng lưu ý cánh cửa cơ hội chỉ thực sự mở khi chìa khóa thể chế được hoàn thiện. Đó cũng chính là lý do Nghị quyết số 20-NQ/TW được ban hành đã “mở đường” cho việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.
Từ nền tảng quyết sách trên, đại diện Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) được kỳ vọng sẽ tạo bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển biển: Từ quản lý phân tán theo từng ngành sang quản lý tổng hợp tài nguyên, quản lý và sử dụng thống nhất không gian biển gắn với quy hoạch, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số.
Cùng một vùng biển có thể có nhu cầu phát triển cảng biển, điện gió, nuôi trồng thủy sản, hàng hải, du lịch, bảo tồn thiên nhiên, nghiên cứu khoa học và nhiệm vụ quốc phòng - an ninh. Nếu mỗi lĩnh vực được nhìn như một “mảnh ghép” riêng biệt, nguy cơ chồng lấn, xung đột không gian và kéo dài thủ tục là khó tránh khỏi. Vì vậy, dự thảo luật đang hướng tới những cơ chế về phân bổ không gian biển, giao, cho thuê, đăng ký sử dụng khu vực biển, xác lập quyền sử dụng và xử lý chồng lấn.

Khi được hoàn thiện, tổ chức thực hiện đồng bộ, luật mới có thể tạo cú hích cho các chuỗi liên kết giữa năng lượng, cảng biển, logistics, nuôi biển, du lịch, công nghiệp và dịch vụ trên biển. Đây cũng là nền tảng để Việt Nam chuyển từ “quản lý biển” sang “quản trị biển”; khai thác từng ngành sang tổ chức một hệ sinh thái kinh tế biển.
Tuy vậy, nhiều ý kiến chuyên gia, lãnh đạo cơ quan quản lý cũng nhìn nhận thể chế chỉ thực sự có giá trị khi được chuyển hóa thành năng lực thực thi ở địa phương.
Đó cũng là điều mà doanh nghiệp tiên phong “mở biển” đang chờ đợi. Trường hợp của anh Nguyễn Bá Ngọc - Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Mực nhảy Biển Đông là một minh chứng cho hành trình đưa khát vọng nuôi biển công nghệ cao thành hiện thực.




Những ngày cuối tháng 7/2026, có mặt tại Cô Tô, tôi đã chứng kiến Ngọc thỏa sức vùng vẫy giữa khu vực nuôi biển công nghệ cao vừa được Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh cấp phép. Phía sau khoảnh khắc tưởng như bình yên ấy là hơn 6 năm doanh nghiệp bền bỉ vật lộn với mặt nước, nguồn vốn, sóng gió và cả những thủ tục kéo dài. Hơn 130 tỷ đồng đã được doanh nghiệp dồn vào giấc mơ đầu tư bài bản, công nghệ cao và phát triển bền vững để biến biển thành không gian kinh tế thực sự.
Tại Cô Tô, anh Ngọc đang hướng tới đầu tư 43 bè, hơn 120 ô lồng nuôi với khát vọng hình thành khu, cụm công nghiệp nuôi biển công nghệ cao. Trong đó, doanh nghiệp đầu tư hạ tầng, người dân cùng tham gia, sinh viên và các nhà khoa học góp sức; hậu cần, bảo vệ, đầu vào và đầu ra được tổ chức thành một hệ sinh thái.
Đó cũng chính là hình hài của một nền kinh tế biển mới - nơi doanh nghiệp không chỉ khai thác lợi thế tự nhiên mà còn tạo ra giá trị bằng công nghệ, tổ chức sản xuất và liên kết, để những ý tưởng lớn không còn là những nỗ lực đơn lẻ.
“Với sự đồng lòng từ Trung ương đến địa phương, Việt Nam hoàn toàn có thể khơi thông mọi nguồn lực, từng bước hiện thực hóa khát vọng trở thành một quốc gia biển giàu mạnh, an toàn và phát triển thịnh vượng.”
Ông Nguyễn Quốc Toản
Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và Môi trường)

.png)
















.png)



