Mega Story

Dấu ấn về xây dựng và bảo vệ nền độc lập, chủ quyền quốc gia

Xuân Quảng 30/08/2025 14:23

Từ đấu tranh giành độc lập năm 1945 đến công cuộc xây dựng và bảo vệ nền độc lập đó là cả một chặng đường vinh quang của dân tộc Việt Nam được thể hiện trên những dấu ấn cơ bản.

cover-doc-lap-chu-quyen-01.png

Mỗi dân tộc có quyền tự hào về nền độc lập của mình, đó cũng là niềm kiêu hãnh trong quan hệ đồng đẳng với quốc gia dân tộc khác. Dù ở thời kỳ lịch sử nào thì đấu tranh cho độc lập, chủ quyền vẫn là dòng chảy chủ đạo cho sự phát triển, tồn tại của mỗi quốc gia, dân tộc. Trong thế kỷ XX, không chỉ Việt Nam tự hào vì đã giành được độc lập từ chủ nghĩa thực dân mà còn là ngọn cờ cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở nhiều thuộc địa trên thế giới. Từ đấu tranh giành độc lập năm 1945 đến công cuộc xây dựng và bảo vệ nền độc lập đó là cả một chặng đường vinh quang của dân tộc Việt Nam được thể hiện trên những dấu ấn cơ bản.

Thiếu tướng, PGS, TS NGUYỄN VĂN SÁU

Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và lịch sử quốc phòng Việt Nam


1.png

Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam đánh dấu quá trình khai thác thuộc địa của chủ nghĩa thực dân ở Đông Dương. Trước chính sách khai thác thuộc địa và bóc lột tàn nhẫn của thực dân Pháp, đã có nhiều cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta nổ ra nhưng đều bị thực dân Pháp đàn áp dã man. Mặc dù bị thất bại, nhưng phong trào yêu nước đã hun đúc ý thức tự lực, tự cường dân tộc trong đấu tranh đánh đuổi thực dân xâm lược, giành lại độc lập dân tộc.

Khát khao về một nước độc lập, tự do, phong trào Đông Du và Duy Tân, do hai sĩ phu yêu nước Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh khởi xướng đã lôi kéo, tập hợp đông đảo thanh niên yêu nước Việt Nam theo con đường cứu nước mới. Nhưng chỉ đến khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (03/02/1930), dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, thì con đường đấu tranh giành độc lập dân tộc mới càng sáng rõ.

vna-potal-131-nam-ngay-sinh-chu-tich-ho-chi-minh-1951890-1952021-thoi-dai-ho-chi-minh-thoi-dai-ruc-ro-nhat-trong-lich-su-dan-toc-viet-nam-544322118-10-18-33.jpg
Tháng 12/1920, chàng thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc (tên của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian hoạt động cách mạng ở Pháp) tham dự Đại hội lần thứ 18 Đảng Xã hội Pháp ở thành phố Tours với tư cách đại biểu Đông Dương. Nguyễn Ái Quốc ủng hộ Luận cương của Lenin về vấn đề dân tộc và thuộc địa; tán thành việc thành lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, cũng là người Cộng sản đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Ảnh: Tư liệu TTXVN

Với đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam đã quy tụ đông đảo các giai cấp, tầng lớp người Việt Nam yêu nước, kể cả người nước ngoài đoàn kết, kề vai sát cánh đấu tranh đánh đuổi thực dân. Trải qua các phong trào cách mạng 1930 - 1931, 1936 - 1939 và 1939 - 1945, đỉnh cao là Cách mạng tháng Tám năm 1945, lực lượng đại đoàn kết toàn dân tộc, với tinh thần, “Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng quyết giành độc lập dân tộc” “Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm” đã vùng lên đánh Pháp, đuổi Nhật, giành độc lập dân tộc. Ngày 2/9/1945, một dấu mốc vàng trong lịch sử dân tộc Việt Nam - nước Việt Nam đã giành được độc lập.

vna-potal-131-nam-ngay-sinh-chu-tich-ho-chi-minh-1951890-1952021-thoi-dai-ho-chi-minh-thoi-dai-ruc-ro-nhat-trong-lich-su-dan-toc-viet-nam-544323018-10-24-19.jpg
Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Hội đồng Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra mắt sau phiên họp đầu tiên, sáng 3/9/1945. Ảnh: TTXVN

Trải qua gần một trăm năm bị thực dân Pháp, phátxít Nhật đô hộ, nhân dân ta chịu cảnh một cổ hai tròng dưới đòn roi tra tấn, gông cùm của chủ nghĩa thực dân xâm lược. Người dân An Nam từ thân phận thuộc địa “không có Tổ quốc” thì đến ngày 2 tháng 9 năm 1945, họ đã là người làm chủ một nước Việt Nam độc lập. Ý chí, khát khao độc lập dân tộc của biết bao thế hệ người Việt Nam trong gần một thế kỷ cuối cùng đã giành được “tấm thẻ căn cước” cho Tổ quốc Việt Nam là Việt Nam có tên trên bản đồ thế giới - nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước Dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Châu Á. Thành quả đấu tranh giành độc lập trong cách mạng tháng Tám năm 1945 đó chính là sự tiếp nối truyền thống của dân tộc ta trong lịch sử, nhất là từ cuộc khởi nghĩa của Ngô Quyền năm 938, kết thúc gần một nghìn năm Bắc thuộc. Phong trào đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia như một dòng chảy xuyên suốt trong lịch sử dân tộc Việt Nam, từ đánh thắng giặc Nam Hán, Tống, Nguyên - Mông, giặc Minh… cho đến thực dân Pháp, phátxít Nhật trong thế kỷ XX. Kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội được mở ra trong thời đại Hồ Chí Minh - Thời đại rực rỡ huy hoàng nhất trong lịch sử dân tộc, có sức lan tỏa mạnh mẽ, thúc đẩy phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của các dân tộc thuộc địa ở Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ Latinh.

vna-potal-131-nam-ngay-sinh-chu-tich-ho-chi-minh-1951890-1952021-thoi-dai-ho-chi-minh-thoi-dai-ruc-ro-nhat-trong-lich-su-dan-toc-viet-nam-544324218-10-27-38.jpg
Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II tổ chức tại Chiến khu Việt Bắc (2/1951) - Đại hội đánh dấu bước trưởng thành mới về tư tưởng, đường lối chính trị của Đảng. Đảng từ bí mật trở lại hoạt động công khai với tên gọi Đảng Lao động Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển cách mạng. Ảnh: Tư liệu TTXVN

Hình mẫu phong trào đấu tranh giành độc lập, chủ quyền ở Việt Nam trở thành ngọn cờ trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên toàn thế giới, tiến công vào thành trì của chủ nghĩa thực dân đế quốc. Sức ảnh hưởng của phong trào đấu tranh giành độc lập ở Việt Nam có tính thời đại sâu sắc, đó là góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng theo con đường xã hội chủ nghĩa và không ngừng bổ sung, phát triển lý luận Mác - Lênin về cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa có thể nổ ra và giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc.

3(2).png
1(2).png
2(2).png
2.png

Đất nước vừa giành được độc lập nhưng phải đối phó với muôn vàn khó khăn thử thách, thù trong, giặc ngoài, giặc đói, giặc dốt; ngân sách Nhà nước trống rỗng; chính quyền một số nơi vẫn nằm trong tay địch. Nền độc lập của nước ta đứng trước tình thế hiểm nghèo như “ngàn cân treo sợi tóc”. Đứng trước tình thế nguy nan, Đảng Cộng sản Đông Dương đã xác định nhiệm vụ quan trọng trước mắt của cách mạng là giữ vững chính quyền cách mạng, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống nhân dân.

Bởi vì chính quyền là vấn đề cơ bản của cách mạng, là thành quả đấu tranh bền bỉ của nhân dân ta trong 15 năm qua. Còn chính quyền, giữ được chính quyền thì mới thực hiện được các nhiệm vụ khác của cách mạng. Để giữ vững chính quyền cách mạng, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện những chiến lược, sách lược mềm dẻo. Về chính quyền, đã sớm tổ chức Tổng tuyển cử phổ thông đầu phiếu, lập Chính phủ chính thức, ban hành Hiến pháp, có Quốc hội, Chính phủ, có sơ quan dân cử, cơ quan hành chính các cấp.

vna-potal-131-nam-ngay-sinh-chu-tich-ho-chi-minh-1951890-1952021-thoi-dai-ho-chi-minh-thoi-dai-ruc-ro-nhat-trong-lich-su-dan-toc-viet-nam-544324518-10-29-9.jpeg
Bộ chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ: Chủ tịch Hồ Chí Minh (giữa), Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp (ngoài cùng bên phải) và các đồng chí trong Bộ Chỉ huy chiến dịch. Ảnh: Tư liệu TTXVN

Về ngoại giao, thực hiện chủ trương “hòa với Tưởng để đánh Pháp”, ta nhượng bộ cho chính quyền Tưởng 70 ghế trong Quốc hội không thông qua bầu cử và sau đó lại “hòa với Pháp để đuổi Tưởng về nước” để tránh cùng một lúc phải đương đầu với nhiều kẻ thù. Về kinh tế, huy động toàn dân hưởng ứng “Tuần lễ vàng”, “Quỹ đôc lập” nên chỉ sau một tuần phát động Chính phủ đã huy động được 370kg vàng và hơn 60 triệu đồng…

Về văn hóa, mở phong trào “Bình dân học vụ”, chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm… Với hàng loạt các biện pháp chiến lược, sách lược đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, chính quyền cách mạng và nền độc lập của nước ta được giữ vững trong sự bao vây, cô lập, chống phá của kẻ thù, thực lực cách mạng được củng cố, cả nước sẵn sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến.

anh-2.jpg
Người dân chong đèn học chữ trong những ngày đầu đất nước giành độc lập. (Ảnh: TTXVN)

Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, chính quyền cách mạng đã phát huy vai trò huy động nhân lực, vật lực cho cuộc kháng chiến. Từ chính phủ đến các địa phương, cả vùng tự do và vùng tạm chiếm đều phát huy vai trò của chính quyền cách mạng, xây dựng hậu phương vững chắc trực tiếp đánh địch và chi viện cho tiền tuyến. Do giữ vững chính quyền cách mạng nên cuộc kháng chiến chống Pháp đã phát huy được thế mạnh của chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, lâu dài, tự lực cánh sinh.

Những bước phát triển của cuộc kháng chiến, từ phòng ngự, cầm cự, phản công đã từng bước làm thất bại âm mưu xâm lược của thực dân Pháp. Thất bại trong Chiến dịch Điện Biên Phủ đã buộc thực dân Pháp phải ngồi vào bàn đàm phán tại Hội nghị Giơ-ne-vơ, công nhận Việt Nam là nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và cam kết rút quân đội khỏi Việt Nam và cả bán đảo Đông Dương.

gionevo-20072022.jpg
Khai mạc ngày 8/5/1954, Hội nghị Geneva về Đông Dương đã trải qua 75 ngày thương lượng căng thẳng với 31 phiên họp. Ngày 20/7/1954, Hiệp định Geneva về Đông Dương được ký kết. Đây là văn kiện ngoại giao quan trọng yêu cầu các quốc gia tôn trọng chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và các nước Đông Dương. Trong ảnh: Toàn cảnh Hội nghị Geneva về Đông Dương tại Thụy Sĩ (1954). Ảnh: Tư liệu TTXVN

Từ sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, miền Bắc giữ vững độc lập phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa và trở thành hậu phương vững chắc, chi viện cho miền Nam đấu tranh chống Mỹ và tay sai. Việc giữ vững độc lập, chủ quyền của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã huy động sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa miền Bắc cho miền Nam đánh Mỹ; xây dựng hậu phương quốc tế rộng rãi ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam.

Do vậy, không thể nào có thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nếu không có miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Miền Bắc đã hoàn thành xuất sắc vai trò của hậu phương chiến lược đối với miền Nam. Độc lập, chủ quyền của miền Bắc xã hội chủ nghĩa trở thành ngọn cờ tập hợp lực lượng, tạo thành sức mạnh trong nước và quốc tế đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

3.png

Từ sau chiến thắng 30/4/1975, đất nước thống nhất liền một dải, cả nước bắt tay hàn gắn vết thương chiến tranh, tái thiết đất nước. Tuy nhiên, trên thực tế còn tồn tại hai chính phủ: Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Để thống nhất nước nhà về mặt nhà nước, từ ngày 24/6 - 3/7/1976, Quốc hội nước Việt Nam thống nhất họp tại Thủ đô Hà Nội đã quyết định Quốc hiệu của nước ta là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và thống nhất Quốc kỳ, Quốc huy, Thủ đô và Quốc ca. Một nhà nước thống nhất sau chiến tranh là mẫu số chung để huy động sức mạnh toàn dân tộc vào bảo vệ thành quả của cách mạng, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất đất nước.

vna_potal_dai_hoi_lan_thu_vi_cua_dang_khoi_xuong_va_lanh_dao_su_nghiep_doi_moi_dat_nuoc_5242161.jpg
Từ Đại hội VI của Đảng (12/1986), công cuộc Đổi mới đã đưa Việt Nam thoát khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành quốc gia có thu nhập trung bình. Gần 40 năm qua, Việt Nam đạt nhiều thành tựu quan trọng về kinh tế, xã hội và hội nhập quốc tế, đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao. Đảng tiếp tục lãnh đạo đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Ảnh: TTXVN

Sau chiến tranh, nước ta đối mặt với muôn vàn khó khăn, nhất là hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranh để lại, những khó khăn về kinh tế - xã hội trước sự bao vấy cấm vận của Mỹ. Từ sau năm 1975, kẻ thù gây chiến tranh ở hai đầu biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc đe dọa trực tiếp đến độc lập, chủ quyền của đất nước. Để giữ vững từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, năm 1979, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã đánh thắng hai cuộc chiến tranh xâm lược biên giới của địch, bảo vệ toàn vẹn vùng đất, vùng trời, biên giới, biển, đảo của Tổ quốc. Một lần nữa, độc lập, chủ quyền quốc gia dân tộc được giữ vững trước những âm mưu muốn làm suy yếu Việt Nam.

Trong khi phải đương đầu với hai cuộc chiến tranh ở biên giới, nền kinh tế bao cấp của nước ta đã bộ lộ những hạn chế nhất định làm suy giảm lực lượng sản xuất, và quan hệ sản xuất lỗi thời lạc hậu đã trở thành rào cản cho những tiến bộ của xã hội. Cơ cấu kinh tế của đất nước mất cân đối, lạm phát phi mã ở mức ba con số (năm 1986, lạm phát 774,7%), đời sống nhân dân khốn đốn, thiếu đói trầm trọng, lòng tin của nhân dân vào chế độ giảm sút… nếu tình trạng này của đất nước kéo dài sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến chủ quyền quốc gia, dân tộc.

vna_potal_dai_hoi_lan_thu_vi_cua_dang_khoi_xuong_va_lanh_dao_su_nghiep_doi_moi_dat_nuoc_5242149.jpg
May mặc được xác định là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam từ khi Đổi mới. Ảnh: TTXVN

Lịch sử Việt Nam cho thấy, cứ trước mỗi khó khăn thường xuất hiện những sáng tạo mang tính bước ngoặt. Từ “khoán chui” trong nông nghiệp, “xé rào” trong công nghiệp… đã cung cấp những luận cứ khoa học cho Đảng đề ra đường lối đổi mới toàn diện, đồng bộ vào năm 1986. Sợ cởi trói tư duy từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đã trở thành động lực, khơi dậy mọi nguồn lực, tiềm năng, sức sáng tạo của người Việt Nam trong bảo vệ độc lập, chủ quyền trước những thách thức, khó khăn của đất nước đang đe dọa đến sự an nguy của dân tộc.

Công cuộc đổi mới đất nước do Đại hội VI của Đảng khởi xướng đã thực sự trở thành dấu ấn quan trọng trong dòng chảy lịch sử của dân tộc, góp phần bảo vệ độc lập, chủ quyền đất nước trước dòng xoáy của các cuộc “Cách mạng màu” ở phương tây tác động trong những năm sau đó. Sự kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đã trờ thành bài học kinh nghiệm xuyên suốt của cách mạng Việt Nam. Chỉ có đi theo con đường xã hội chủ nghĩa mới bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc.

4.png

Thành công của công cuộc đổi mới đất nước đã khơi thông mọi nguồn lực trong nước hướng đến kết hợp với nguồn lực quốc tế. Đặc biệt, từ năm 1994, khi Mỹ xóa bỏ bao vây cấm vận kinh tế và bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, cùng với chủ trương “Việt Nam muốn làm bạn” với các nước trong cộng đồng quốc tế đã đưa nước ta từng bước hội nhập sâu rộng vào các quan hệ toàn cầu.

Cho đến năm 2025, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 nước, thiết lập quan hệ đối tác chiến lược và đối tác chiến lược toàn diện với 33 nước, trong đó có tất cả các nước lớn; ký kết 16 hiệp định thương mại tự do (FTA) với sự tham gia của khoảng 60 nền kinh tế; tham gia nhiều tổ chức khu vực và quốc tế: ASEAN, ASEM, APEC, WTO… Việc hội nhập quốc tế sâu sắc và rộng mở đã tạo ra nguồn lực quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

viet-nam-wto-1909.jpg
Sáng 11/1/2007, tại trụ sở Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) ở Geneva (Thuỵ Sĩ) treo biểu ngữ "Chào mừng Việt Nam" bằng các thứ tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha, khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại lớn nhất thế giới này. (Ảnh: Lan Hương - TTXVN)

Đặc biệt hội nhập quốc tế trong lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc phòng đã thúc đẩy quan hệ song phương và đa phương với các nước và các đối tác đi vào chiều sâu. Việt Nam đã tích cực tham gia các cơ chế đối thoại, hợp tác an ninh khu vực và thế giới, tiêu biểu như Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+), Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), Đối thoại Shangri- La, cũng như nhiều sáng kiến đa phương khác về an ninh truyền thống và phi truyền thống…, kiên định thúc đẩy các nguyên tắc giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, đề cao vài trò luật pháp quốc tế, tăng cường đối thoại và xây dựng lòng tin chiến lược giữa các quốc gia góp phần giữ gìn hòa bình. Những hoạt động đó đã tạo dựng thiện chí của Việt Nam trong con mắt của bạn bè quốc tế, tranh thủ nguồn lực để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

Để bảo vệ độc lập, chủ quyền trong quá trình hội nhập quốc tế sâu sắc, Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vững quan điểm kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, trong đó dựa vào sức mình, dựa vào nội lực đất nước là chính, khơi dậy và phát huy cao độ nội lực, tranh thủ tối đa các nguồn ngoại lực. Quán triệt quan điểm đó, các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, quốc phòng, an ninh của nước ta luôn bảo đảm tự chủ, tự lực, tự cường, không bao giờ bị lệ thuộc, không bao giờ bị ép buộc hay chi phối của nước ngoài.

Trong lĩnh vực quốc phòng, chúng ta luôn kiên định chính sách quốc phòng “bốn không”: Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; nên mọi hoạt động quân sự từ xây dựng lực lượng vũ trang, phát triển công nghiệp quốc phòng đều nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, thực kiện kế sách giữ nước “từ sớm, từ xa”, từ khi nước chưa nguy.

doi-thoai-chinh-sach-quoc-phong-viet-nam-hoa-ky-lan-thu-13-8019499.jpg
Đối thoại Chính sách quốc phòng Việt Nam-Hoa Kỳ lần thứ 13. (Ảnh: Trọng Đức/TTXVN)

Xây dựng và bảo vệ độc lập chủ quyền quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, liên tục của Đảng, Nhà nước và nhân dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt. Mặc dù ở mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn lịch sử, nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền của Tổ quốc có khác nhau, nhưng mục tiêu xuyên suốt là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia dân tộc.

Nhân dịp kỷ niệm 80 năm cách mạng Tháng Tám, chúng ta điểm lại những dấu ấn quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ độc lập, chủ quyền của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, để mỗi người Việt Nam luôn tin tưởng, tự hào và ra sức xây dựng, bảo vệ nền độc lập đó như bảo vệ chính mình./.

Nội dung: Xuân Quảng

Thiết kế và trình bày: Hào Nguyễn


(0) Bình luận
© Bản quyền thuộc về VietnamPlus, TTXVN.
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO
Dấu ấn về xây dựng và bảo vệ nền độc lập, chủ quyền quốc gia